Học tập

  Trang chủ  / Học tập
Phân tích hình tượng người lái đò sông Đà

Phân tích hình tượng người lái đò sông Đà

Học tập - ngày 15 tháng 02 năm 2020

Văn học Việt Nam là hành trình vun đắp, dựng xây những giá trị của con người và thời đại. Chúng ta đã từng say mình trước kho tàng văn học dân gian cùng những câu ca dao, những ngày xửa ngày xưa, hòa mình trong những biến động thời đại của văn học trung đại thì càng thêm quyến luyến cái đẹp, cái tình trong nền văn học nhất là văn học sau đổi mới. Ở những trang văn, ta bắt gặp những giá trị chân- thiện- mỹ. Mỗi ngòi bút là một người nghệ sĩ luôn không ngừng cống hiến. Trong dòng chảy lặng lẽ của văn học, một Nguyễn Tuân cũng đã khẳng định một cái tôi riêng độc đáo. Với tùy bút Người lái đò Sông Đà và đặc biệt là chân dung con người lao động, Nguyễn Tuân đã xây dựng thành công hình tượng người lái đò sông Đà. Nói đến Nguyễn Tuân là nói về người nghệ sĩ với lối viết riêng độc đáo. Văn phong của ông không thu mình trong một mạch nguồn cảm xúc mà luôn độc đáo đến lạ kỳ! Dù có những đổi thay trong sáng tác trước và sau Cách mạng những nhà Nho trí thức Nguyễn Tuân vẫn luôn dành niềm yêu, sự trân trọng cho những con người tài hoa nghệ sĩ. Ông khám phá cái tài hoa nghệ sĩ của con người trên nhiều phương diện và hơn cả là khám phá, tìm kiếm chất vàng mười ẩn nấp trong thiên nhiên và con người. Với chủ nghĩa xê dịch, với ý thức văn chương cao đẹp, tùy bút Sông Đà chính là minh chứng cho tài hoa của người nghệ sĩ. Bài kí Người lái đò Sông Đà là thành quả của chuyến đi thực tế đến Tây Bắc của Nguyễn Tuân trong những tháng năm xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc. Chuyến đi nhằm thỏa mãn niềm say mê khám phá cùng khao khát tìm hiểu những gì đẹp nhất, tinh túy nhất- “chất vàng mười” qua thử lửa của thiên nhiên và con người. Bài tùy bút được in trong tập Sông Đà viết trong những năm 1958- 1960. Tác phẩm tiêu biểu cho lối viết tài hoa, uyên bác, theo đúng chủ nghĩa xê dịch cùng tinh thần của người nghệ sĩ. Nhà văn đã có những nét bút đầu tiên khái quát cho bạn đọc những thông tin cơ bản về nghề nghiệp, ngoại hình và phẩm chất của ông đò. Nghề nghiệp của ông là lái đò trên sông Đà với với mười năm kinh nghiệm và đối mặt với biết bao hiểm nguy. Công việc lái đò là công việc lao động rất đỗi bình thường không liên quan gì đến nghệ thuật nhưng dưới ngòi bút của tác giả, người lái đò là chiến tướng tài ba lão luyện; người nghệ sĩ sông nước với nghệ thuật leo thác vượt ghềnh với đôi tay lái ra hoa. Ngoại hình ông đò được nhà văn khắc họa cũng phần nào cho thấy bản lĩnh, tài hoa của ông. Ông có ngoại hình tráng kiện, dẻo dai, mạnh mẽ và đẹp như một bức tượng sống dù tuổi đã ngoài bảy mươi. Đặc biệt, chi tiết gây ấn tượng lớn với người đọc là trên ngực ông lái đò có một vết bầm lớn do cán chèo tì vào và được Nguyễn Tuân gọi là thứ huân chương siêu hạng. Cách liên tưởng của tác giả vô cùng độc đáo đã gợi ra vẻ đẹp, sự nhiệt huyết và say mê lao động của con người ngày đêm bền bỉ miệt mài cống hiến xây dựng và bảo vệ tổ quốc. Đồng thời, tấm huân chương đặc biệt này còn thể hiện thái độ trân trọng, ngưỡng mộ của Nguyễn Tuân dành cho những con người lao động bình thường nhưng rất đỗi cao đẹp. Họ cao đẹp bởi phẩm chất nghề nghiệp tuyệt vời. Ông lái đò có một trí dũng song toàn, tay nghề lão luyện, dày dặn kinh nghiệm, luôn bình tĩnh và tỉnh táo, luôn làm chủ mọi tình huống hiểm nguy bởi lẽ ông thuộc từng luồng lách bố trí của con sông Đà “sông Đà đối với ông lái đò như một trường thiên anh hùng ca mà ông đã thuộc từng dấu chấm, dấu phẩy, dấu chấm than, dấu xuống dòng”. Ông đò là vị tướng lĩnh tài ba thông thạo binh pháp của thần sông thần đá, là tướng lĩnh cầm quân trong tư thế chủ động, luôn sẵn sàng chiến đấu. Ngòi bút của tác giả đã khái quát những thông tin cơ bản về người lái đò, để chuẩn bị cuộc đọ sức không cân sức giữa người lao động và dòng sông hung bạo. Hai chiến tuyến trái ngược, hai tương quan lực lượng rất chênh lệch là thông tin đầu tiên về cuộc đọ sức giữa ông lái đò và con sông Đà. Tất cả lợi thế đều nghiêng về con sông Đà hung hãn xảo quyệt, lắm mưu nhiều kế với những cạm bẫy nguy hiểm chết người. Đối lập là hình ảnh ông đò nhỏ bé, đơn độc, vũ khí duy nhất trên tay là cán chèo cùng con thuyền mỏng manh như chiếc lá giữa dòng nước dữ. Đây thực sự là cuộc đọ sức, đọ chí, đọ tài và đòi hỏi người lái đò phải vô cùng dũng cảm, tài trí, bản lĩnh mới có thể khuất phục được dòng sông hung hãn để giành lại sự sống từ tay con thủy quái. Mở đầu là cuộc chiến không khoan nhượng giữa ông lái đò cùng sông Đà trong trùng vi thạch trận đầu tiên. Sông Đà bày binh bố trận vô cùng bài bản, khôn khéo, nham hiểm, xảo quyệt với năm cửa thì có đến bốn cửa tử và chỉ có duy nhất một cửa sinh nằm lập lờ ở phía tả ngạn sông Đà. Dòng sông hung bạo huy động binh lực hùng hậu với đủ tướng dữ. Đá tiền vệ, đá hậu vệ đầy thách thức và hiếu chiến cùng phối hợp với nhau. Sông đà đã dồn mọi lực lượng để dồn dập tấn công con người nhằm dồn đối phương vào chỗ chết: “Sóng nước như thể quân liều mạng vào sát nách mà đã trái mà thúc gối vào bụng và hông thuyền”. Những câu văn của Nguyễn Tuân rất chính xác khi nói đến cái nham hiểm của dòng sông hung tợn với một loạt những động từ mạnh như: đội, vồ cùng hình ảnh so sánh độc đáo khi miêu tả về sức mạnh khủng khiếp của dòng nước lũ. Sóng thác không khuất phục trước con người lao động, tìm ra những đòn hiểm độc nhất để ngăn chặn, để con người bình thường phải khiếp sợ khi bóp chặt lấy hạ bộ người lái đò. Vậy nhưng ông đò chẳng hề nao núng, với bản lĩnh gan góc, tinh thần hiên ngang dũng cảm, bình tĩnh, tỉnh táo, điêu luyện thuần phục khéo léo trong từng động tác. Mặc dù phải chịu đựng nỗi đau ghê gớm về thể xác nhưng ông đò không tỏ ra nao núng sợ hãi mà vẫn hiên ngang chủ động với tay lái ra hoa. Trong tư thế của người cầm quân chiến đấu, ông đò giữ chặt mái chèo- thứ vũ khí “tối thượng” cùng ông chống chọi với hiểm nguy. Phối hợp cùng đôi tay rắn chắc, kiên cố, chân ông cũng gắng gượng đến cùng để ghì lấy cuống lái bất chấp vết thương đau đớn. Hình ảnh gương mặt méo bệch của ông cùng tiếng nước xối xả, tiếng của những luồng sóng, của những đá vụn trên sông như thứ bằng chứng cho những khó khăn, hiểm nguy của người lái đò sông Đà. Người lái đò đã sử dụng những đòn của thể thao, võ thuật và quân sự để đánh chiến cùng dòng sông hung bạo. Vòng vây thạch trận thứ hai được tái hiện thông qua bút pháp so sánh cùng liên tưởng của nhà văn. Một bên là sông Đà nham hiểm, xảo quyệt thay đổi chiến thuật để dụ con mồi vào chỗ chết. Một bên là ông đò dũng cảm. Dòng sông hung bạo như muốn đối chọi đến cùng và không chấp nhận sự chinh phục. Thách thức đặt ra ngày một lớn hơn khi mà những cửa tử nối đuôi nhau xuất hiện và cửa sinh thì nằm ở bên tả ngạn. Dòng sông có lúc như một con hổ dũng mạnh với dòng thác hùm beo, có lúc lại như một con chiến mã bất kham. Đã thế lũ thủy cân cửa ải lại vô cùng hung hăng, ngỗ ngược. Đứng trước kẻ thù nham hiểm, ông đã nhanh chóng thay đổi chiến lược để chinh phục dòng sông hung bạo. Quy luật của thần sông, thần đá, quy luật phục kích của nước lũ đã trở thành những dòng chữ khắc ghi một cách tự nhiên trong tâm trí ông đò. Ông đò vô cùng dũng cảm, ngoan cường trong cuộc chiến sinh tử. Hình ảnh chiến đấu ngoan cường của ông như người võ sĩ  chiến đấu đến giây phút cuối cùng chinh phục kẻ thù đối chọi. Từ việc nắm bờm sóng đến ghì cương lái và lao về phía trước để giành được chiến thắng cuối cùng. Hình ảnh ông đò trong cuộc chiến sinh tử luôn oai hùng như vậy! Binh pháp của ông linh hoạt uyển chuyển, mềm dẻo, biến hóa khôn lường, lúc cương lúc nhu, lúc nhượng bộ, lúc phòng thủ rồi bất ngờ tấn công quyết liệt áp đảo đối phương: “đứa thì ông tránh mà rảo bơi chèo lên, đứa thì ông đè sấn lên mà chặt đôi ra để mở đường tiến và những luồng tử đã bỏ hết lại sau thuyền”. Cửa thứ ba ít cửa hơn nhưng nguy hiểm cũng ngày một dồn dập bởi vì bên phải bên trái đều là đường chết, còn luồng sống lại bị chắn ngang bởi bọn đá hậu vệ của con thác. Tất cả dồn ông lái đò vào thế bí, chiến trận đòi hỏi ông lái đò phải có tài trí dũng cảm, đánh nhanh thắng nhanh, tiêu diệt gọn: “Cứ phóng thẳng thuyền, chọc thủng cửa giữa đó”. Và chiếc thuyền gỗ nhỏ bé cùng người lái đò vượt qua hiểm nguy, con thuyền phóng lên và lao về phía cửa sinh, luồng sống duy nhất ấy thôi thúc người cầm lái và cũng khiến trái tim người đọc rung lên trong những lo lắng khôn nguôi! Người lái đò như một người nghệ sĩ xiếc trong trò chơi nghệ thuật đầy táo bạo và nguy hiểm. Con thuyền vượt qua bao của ải sinh tử và đọng lại mãi trong tâm trí người đọc là hình ảnh đẹp đến nao lòng khi nó như bay lên sóng thác sông Đà. Ông lái đò là chân dung chân thực nhất của người nghệ sĩ trong lao động, trong nghệ thuật chiến đấu leo thác vượt ghềnh. Và cuối cùng chiến thắng đã thuộc về người lái đò trí dũng, tài hoa, nghệ sĩ. Cuộc chiến cùng dòng sông hung bạo tạm thời kết thúc sau một hành trình ngoan cường của con người để chống lại thiên nhiên khắc nghiệt. Người lái đò không còn là người nghệ sĩ trước thiên nhiên hiểm hóc. Ông trở về với cuộc sống, với những gì đời thường nhất. Đó không phải là thái độ tự hào hay sự oai vệ, ông nhẹ nhàng hòa mình trong cuộc sống bên những đốm lửa đêm, bên những con người và thiên nhiên núi rừng quen thuộc, gắn bó. Chính nét đẹp bình dị đời thường này đã tôn vinh những con người lao động bình thường. Bài kí là một tiểu anh hùng ca ca ngợi người lái đò trong cuộc xây dựng cuộc sống mới. Tái hiện chân dung ông lái đò, Nguyễn Tuân đã sử dụng nhiều hình ảnh so sánh, liên tưởng vô cùng độc đáo, thú vị và tài hoa. Nhà văn đã sử dụng dày đặc hệ thống các động từ mạnh: “sống lên, vồ lấy thuyền, ghì cương, lái miết…”. Cùng với đó là những so sánh, liên tưởng vô cùng gợi hình, gợi cảm. Những câu văn của Nguyễn Tuân tác động mạnh vào giác quan của người đọc và làm hình ảnh sông Đà hung bạo trong ba trùng vi thạch trận đối lập với người lái đò trí dũng, tài hoa. Có thể nói, Nguyễn Tuân với cá tính phóng khoáng đã đặc biệt thành công với thể loại tùy bút. Người nghệ sĩ là người đưa người đọc vào cảm xúc và thăng hoa cùng cảm xúc. Đó là những phút giây vỡ òa của cảm xúc khi người đọc chứng kiến ông đò bị dồn vào nguy hiểm. Và cuối cùng là niềm hạnh phúc khi chiến thắng cuối cùng thuộc về con người- chất vàng mười thật sự kết tinh cho tài hoa, khí phách con người. Bài viết còn là tình yêu quê hương đất nước tha thiết góp phần xây dựng tổ quốc, xây dựng chủ nghĩa xã hội. Và trước những chảy trôi của thời gian, con người ấy, tài hoa ấy mãi sống trong lòng bạn đọc mọi thế hệ. >>> Xem thêm bài viết: Phân tích bài thơ Từ ấy của nhà thơ Tố Hữu Ngữ văn lớp 11 Tìm hiểu hồn thơ Hàn Mặc Tử thông qua bài thơ Đây Thôn Vĩ Dạ

Xem ngay
Phương pháp luyện thi IELTS 5.0 và những điều cần chú ý

Phương pháp luyện thi IELTS 5.0 và những điều cần chú ý

Học tập - ngày 15 tháng 02 năm 2020

IELTS là một kỳ thi đánh giá năng lực tiếng Anh quốc tế được sử dụng rộng rãi trên nhiều quốc gia. Một bài thi IELTS đã đánh giá người thi một cách toàn diện, tổng quát hơn những bài thi mà chúng ta từng tiếp xúc trước đó. IELTS 5.0 là mức cơ bản khi bạn tham gia luyện thi IELTS. Với số điểm 5.0, bạn đã có thể hoàn toàn tự tin khi du học ở các nước như Nhật Bản, Singapore, Hàn Quốc,...  Ngoài ra, IELTS 5.0 còn giúp học sinh, sinh viên miễn thi tốt nghiệp hoặc thi đánh giá chất lượng đầu vào môn tiếng Anh, và còn mang lại nhiều lợi ích khác trong cả công việc lẫn cuộc sống. 1. Lộ trình luyện thi IELTS 5.0 Rất nhiều người luyện thi ielts không thành công bởi vì họ không có cho mình một lộ trình phù hợp. Sau đây là lộ trình luyện thi IELTS 5.0 mà mình chia sẻ tới các bạn. A, Giai đoạn đầu – giai đoạn sơ cấp * Ngữ pháp: cho dù đích đến của bạn có là bao nhiêu đi chăng nữa, trình độ của bạn cao hay thấp thì ngữ pháp cũng là điều mà chúng ta nên chú trọng đầu tiên. Một số chủ đề ngữ pháp quan trọng như: * Thì: hiện tại đơn, hiện tại tiếp diễn, hiện tại hoàn thành, quá khứ đơn, tương lai gần, tương lai đơn. * Đại từ quan hệ, Tính từ sở hữu * Mạo từ: cách sử dụng mạo từ a, an, the. * Trạng từ: các loại trạng từ: chỉ tần suất, chỉ mức độ, cách thức,... * Động từ khuyết thiếu * Giới từ * Mệnh đề quan hệ: who, which, whom, who, whose,.. * Câu bị động * Phát âm: luyện tập phát âm sẽ giúp chúng ta nâng cao khả năng Speaking và Listening.  Chúng ta sẽ bắt đầu với những nguyên âm và phụ âm cơ bản bao gồm: 12 nguyên âm và 8 phụ âm. Sau đó chúng ta sẽ chuyển sang học cách phát âm và các phụ âm còn lại. Ví dụ: * Phụ âm vô thanh: /k/, /t/, /θ/, /tʃ/ * Phụ âm hữu thanh: /v/, /z/, /d/ Tiếp theo, chúng ta sẽ luyện tập nói theo câu. Lúc này, các bạn có thể tham khảo trên Internet các video tiếng Anh. Cố gắng nghe và bắt chước ngữ điệu, lâu dần chúng ta sẽ có một kết quả xứng đáng. B, Giai đoạn 2 – Học từ vựng Từ vựng là một yếu tố vô cùng quan trọng trong quá trình luyện thi IELTS 5.0. Chúng ta nên bắt đầu ôn luyện từ vựng khi đã có nền tảng kiến thức ngữ pháp vững chắc. Các bạn có thể tham khảo các tài liệu học từ vựng qua Internet hoặc các cuốn sách học từ vựng. Bằng cách nào cũng được, nhưng chúng ta nên chọn lựa phương pháp học từ vựng phù hợp với trình độ của bản thân. Các chủ đề từ vựng thông dụng trong tiếng Anh và IELTS. Tùy vào trình độ của mỗi người, khả năng, độ nhạy bén của mỗi người mà thời gian học của giai đoạn học từ vựng có thể kéo dài 1-2 tháng, hoặc 3 tháng. Nhưng giai đoạn này không nên kéo dài quá lâu làm ảnh hưởng tới những giai đoạn sau. C, Giai đoạn 3 – Luyện tập từng kĩ năng Reading và Listening: với 2 phần này, bạn nên tìm hiểu thật kĩ những dạng bài sẽ xuất hiện Reading: với kĩ năng này, khi luyện tập ở nhà, bạn sẽ có nhiều sự lựa chọn và bạn nên chọn các tài liệu nghe có trình độ tương ứng với trình độ hiện tại của bạn. Hãy nghe đi nghe lại nhiều lần, để bản thân mình cảm thấy thoải mái nhất. Hãy kiên trì có tới khi bạn tự tin rằng bản thân mình đã chinh phục được Reading. Listening: cũng tương tự như cách ôn luyện Reading: chọn một tài liệu, chia nó thành các dạng và luyện tập từng dạng cho tới khi học hết tài liệu đó! Speaking và Writing Về Speaking, trước tiên bạn nên dành thời gian khoảng 1-2 tuần đầu để luyện tập phản xạ. Sau đó bạn có thể tập trung câu trả lời cho các chủ đề quen thuộc trong IELTS như Home, Study, Work, School,... Còn về phần Writing, đây có lẽ là kĩ năng khó nhất trong bài thi IELTS. Đây là giai đoạn cần nhiều thời gian để học cũng như luyện tập. Bạn có thể tìm kiếm các tài liệu qua Internet, tập trung chủ yếu vào các task 1 và task 2. Luyện tập thật nhuần nhuyễn thì mới có kết quả như ý! Trên đây là chia sẻ của giasusinhvien.net về cách luyện thi IELTS 5.0. Chúc các bạn học tốt và đạt kết quả IELTS như mong muốn! >> Xem thêm ngay: Cách tính điểm IELTS dựa trên thang điểm chuẩn cho thí sinh Những điều cần biết về kỳ thi IELTS dành cho ai chưa biết!

Xem ngay
Phân tích vẻ đẹp hình tượng người lái đò sông Đà

Phân tích vẻ đẹp hình tượng người lái đò sông Đà

Học tập - ngày 15 tháng 02 năm 2020

     Theo nhà văn Nguyễn Minh Châu, Nguyễn Tuân được xem là “cái định nghĩa về người nghệ sĩ”. Tên tuổi của ông gắn liền với ‘’cái tôi” người nghệ sĩ đầy cá tính sáng tạo độc đáo và rất mực tài hoa, uyên bác. Đoạn trích “Người lái đò sông Đà” rút ra trong tập “ Sông Đà” sáng tác năm 1960. Đây thực chất là một thiên tùy bút giàu chất kí, đậm chất thơ đánh một dấu son đỏ cho sự nghiệp sáng tác của Nguyễn Tuân sau Cách mạng. Bằng cảm quan thẩm mĩ tinh sâu, nhạy bén và một ngòi bút độc đáo vô song, Nguyễn Tuân đã khám phá ra chất “vàng mười đã qua thử lửa” của tâm hồn vùng Tây Bắc ở cuộc sống mới của đất nước qua hình tượng người lái đò sông Đà tài hoa và trí dũng.      Sau Cách mạng tháng 8 năm 1945, nhà văn Nguyễn Tuân tùy vẫn say mê dịch chuyển nhưng không đi trong tâm trạng “thiếu quê hương” mà sống trong lòng quê hương để khám phá, ca ngợi cái đẹp, cái thật mà ông gọi là “chất vàng ròng”. Sau những chuyến đi thực tế lên miền Tây Bắc, tập “Sông Đà” gồm mười lăm bài ký, tùy bút và một bài thơ dưới dạng phác thảo là kết quả nghệ thuật vô giá mà ông gặt hái được từ cuộc sống mới, con người mới ở nơi đây. Tùy bút “Người lái đò sông Đà” là một thiên anh hùng ca, một công trình nghệ thuật tuyệt mĩ kết tinh cả cái tài và cái tâm của Nguyễn Tuân đối với nhân dân, đất nước. Có thể sơ qua vài nét về ngọn nguồn, lai lịch của sông Đà với cảm hứng nghệ thuật của nhà văn Nguyễn Tuân qua tác giả Nguyễn Quang Bích: “Chúng thủy giai đông tẩu Đà giang độc bắc lưu”. Sông Đà ở thượng nguồn Tây Bắc rất khoái trá, khác thường bởi trong khi mọi dòng sông đều chảy về hướng đông thì chỉ riêng sông Đà ngược lại về phía bắc. Nguyễn Tuân đã có những khảo cứu công phu và điều tra xác thực về ngọn nguồn, lai lịch của dòng sông. Sông Đà “khai sinh” từ Trung Quốc, sau đó “ nhập tịch” tại Việt Nam. Nó khởi nguồn từ ngọn núi ác phía chân trời xa nên đoạn thượng nguồn rất dữ dội, dữ dằn, lắm ghềnh thác. Không chỉ vậy, sông Đà còn hiện lên với vẻ trữ tình, là một dòng sông “thiếu nữ”, một dòng sông cổ tích tuổi thơ. Ông đã cảm nhận dòng sông ở nhiều thời điểm, nhận thấy sự thay đổi màu sắc và để từ đó nhận ra những vẻ đẹp tiềm ẩn của một sinh thể đầy cá tính, tính cách, biết sống hết mình giữa đất trời Tây Bắc. Khi đọc tùy bút này, Nguyễn Tuân đã làm nổi bật chân dung của một người lao động vô danh, vừa là người lao động vừa là người nghệ sĩ. Tuy nhiên ta cần đặt ra câu hỏi, tại sao tác giả không đặt một cái tên cho nhân vật, mà lại là vô danh? Miêu tả một nhân vật anh hùng nhưng lại là nghệ sĩ, dụ ý của Nguyễn Tuân là gì? Có thể thấy, chủ nghĩa anh hùng và kỳ tích không chỉ có trong mặt trận chiến đấu mà còn ở trong mặt trận lao động. Ở đây, ông lái đò là hình ảnh tiêu biểu cho biết bao nhiêu con người lao động trên khắp mọi miền tổ quốc đang ngày đêm góp công sức nhỏ bé của mình trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc. Người lái đò sông Đà không xuất hiện trên bề mặt cuộc sống mà còn náu mình, còn khuất lấp ở một mảnh đất vốn hoàn vũ, bị chiến tranh tàn phá nặng nề, nhất là những con người lao động bình dị, đang lặng thầm chinh phục thiên nhiên hiểm ác để góp mình xây dựng cho cuộc sống của quê hương đất nước ngày thêm tươi sáng, vững bền.  Con sông Đà chính là môi trường lao động của người lái đò. Trên cái nền lao động của thiên nhiên hùng vĩ, hoang sơ và dữ dội hiện lên bức chân dung của người lái đò vô danh nhưng lại có tay lái ra hoa. Mỗi đường chèo của ông như làm nảy sinh bao cái đẹp cho đời. Và ở đây, ông đò hiện lên với ba vẻ đẹp chính, đó là sự kinh nghiệm từng trải nơi sông nước, sự dũng cảm kiên cường qua cuộc vượt thác và sự ung dung pha chất nghệ sĩ khi trở về cuộc sống đời thường. Trước hết, để đối mặt với con sông Đà hung bạo, với hơn mười năm kinh nghiệm và hơn một trăm lần trực tiếp cầm lái chèo, ông đò phải là một người hiểu biết tường tận về con sông này. Ông là một người ưa mạo hiểm bởi nghề chèo đò là một công việc cực kỳ nguy hiểm. Ông am hiểu từng thác nước sông Đà, “đá tướng, đá quân, nhớ như đóng đinh vào từng vực xoáy luồng chết, hiểu binh thư binh pháp của thần sông, thần đá.” Bên cạnh đó, cuộc đấu với hung thần sông Đà với đầy đủ tướng tợn, quân đông là một cuộc chiến không cân sức. Một bên là ông đò với vóc dáng bé nhỏ đơn độc, tuổi đã cao chỉ có con thuyền mỏng manh làm vũ khí chiến đấu, không hề có đôi cánh nhưng lại mang sức mạnh thần thánh của dũng sĩ Hecquyn trong thần thoại Hy Lạp. Một bên kia là kẻ địch, con sông Đà hung hãn man dại, trùng trùng sóng thác hiểm nguy và cực kỳ nham hiểm, xảo quyệt. Ông lái đò một mình lạc giữa thế giới độc dữ mặc cho kẻ thù đánh những đòn hiểm độc nhất ông vẫn bình tĩnh, tự tin gan góc, quả quả vượt qua trận đồ bát quái lắm cửa tử, ít cửa sinh. Ông biến cây chèo trong tay thành một thứ vũ khí phá ải, diệt thành như một dũng sĩ bách chiến bách thắng trong sự nghiệp chinh phục thiên nhiên ghềnh thác. Qua đôi bàn tay tài hoa của Nguyễn Tuân, người lái đò sông Đà hiện lên là một tướng sĩ, một người nghệ sĩ tài hoa trong cuộc vượt thác, leo ghềnh. Ông lái đò sẵn sàng đối mặt với thác dữ, chinh phục những cửa tử, cửa sinh; sẵn sàng vượt qua ba trùng vi thạch trận và những vòng tuyến đầy nguy hiểm bằng những hành động dũng cảm, táo bạo và đầy tính chuẩn xác. Đó chính là hình ảnh của một vị chỉ huy, một vị tướng dày dạn kinh nghiệm và vô cùng bản lĩnh. Ở trùng vi thứ nhất, trên quãng sông này, thủy quái sông Đà dàn ra năm cửa đá, có đến bốn cửa tử và một cửa sinh duy nhất. Không những thế, nó còn huy động sức mạnh của sóng thác và đá hòng ăn chết con thuyền. Có lúc mặt nước hò la vang dậy, có lúc như thế quân “liều mạng thúc gối vào bụng, vào hông thuyền”, lại có lúc “đội cả thuyền lên” nhầm “tóm lấy thắt lưng ông đò”. Thậm chí, chúng còn đánh đòn trả, đòn âm vào chỗ hiểm. Kết quả là sóng thác “ùa vào mà bẻ gãy cán chèo”; và khi nó từng “miếng đòn hiểm độc nhất”, người lái đò tuy mặt méo bệch nhưng vẫn cố gắng tỉnh táo chỉ huy con thuyền lướt đi sao cho đúng vào đường sinh. Ở trùng vi thứ hai, dòng sông đã thay đổi cả sơ đồ phục kích bát quái và chiến thuật. Nó bố trí nhiều cửa tử hơn và cửa sinh nằm lệch bờ hữu. Lúc này dòng thác cuồn cuộn xiết “như dòng  thác hùm beo” nhưng do đã nắm vững binh pháp của thần sông thần đá, ông đò lập tức thay đổi ngày chiến thuật. Chỉ với một câu văn, nhà văn Nguyễn Tuân đã khắc họa được chân dung của ông lái đò, giống như một vị tướng sĩ trong chỉ huy mặt trận sau khi nắm chặt lấy được cái bờm sóng đúng luồng ông lái đò ra sức ghì cương lái, bám chắc theo luồng nước sao cho đúng rồi phóng nhanh vào cửa sinh, lái miết một đường chéo về phía cửa đá ấy. Có chỗ ông tránh để mà rảo bơi chèo, lại có chỗ đè sấn lại mà chặt đôi ra. Thế là con thuyền vượt qua trùng vây thứ hai, khiến cho sóng thác và đá sông Đà phải “tiu nghỉu cái mặt xanh lè” tuy hung hăng dữ tợn. Và không một phút nghỉ ngơi, cũng giống như ở trùng vây thứ hai, người lái đò ngay lập tức đối mặt với trùng vây thứ ba. Nơi đây tuy ít cửa tử hơn song bên phải, bên trái đều là luồng chết, của sinh lại nằm ngay chính giữa của dòng sông và có bọn đá hậu vệ canh gác. Nhưng bằng một lòng quả cảm, dày dặn kinh nghiệm và sự điêu luyện , thành thục qua năm tháng dài trong công việc, ông đò tiếp tục chỉ huy con thuyền vượt qua trùng vi này một cách ngoạn mục. Nguyễn Tuân đã rất tinh tế khi đưa vào đây những động từ mạnh kết hợp với nhịp điệu nhanh, gấp gáp cùng nghệ thuật so sánh “ thuyền như một mũi tên tre” để mà qua đây, hiện lên trước mắt chúng ta tất cả vẻ đẹp tài hoa, nghệ sĩ của ông lái đò, như một người nghệ sĩ đang làm xiếc biểu diễn trên dòng sông Đà. Tuy nhiên, sau cuộc vượt thác trở về với cuộc sống đời thường, ông đò lại hiện lên với vẻ ung dung, tự tại thưởng thức cuộc đời. Ông lại tiếp tục với việc đốt lửa trong hang đá, nướng ống cơm lam mà chẳng bàng lại một lời nào về cuộc chiến đấu, chiến thắng vang dội vừa qua mà chỉ bàn tán về cá anh vũ, cá dầm. Ngày qua ngày, ông lại ngược xuôi sông nước, lại tiếp tục với cuộc sống mưa sinh của mình. Ông buộc một cái bu gà vào mũi thuyền để có tiếng gà gáy mang theo cho đỡ nhớ bản Mường, khúc vĩ thanh của bản giao hưởng thật êm đềm, thanh thoát mà đầy chất nghệ sĩ.  Bằng tri thức quân sự, võ thuật, điêu khắc, binh pháp của mình, Nguyễn Tuân đã sử dụng một cách triệt để, sáng tạo khiến cho việc miêu tả cuộc chiến của ông lái đò với cửa ải trở nên giống như một trận đánh vô cùng hấp dẫn, biến ảo. Qua đó làm hiện lên trên cái nền độc dữ, nham hiểm hung bạo của con sông Đà là hình ảnh suy nghĩ lồng lộng của người lái đò trong tư thế chinh phục và chiến thắng. Đó cũng chính là quan niệm mới mẻ của Nguyễn Tuân về những con người tài hoa, nghệ sĩ, về chủ nghĩa con người Việt Nam trong cuộc sống đời thường. “Người lái đò sông Đà” là một áng văn đẹp được làm nên từ tình yêu thương thiết tha của một con người yêu nước say đắm muốn dùng văn chương của mình để ngợi ca vẻ đẹp của thiên nhiên vừa kỳ vĩ, hào hùng vừa trữ tình, thơ mộng và nhất là của con người lao động trầm lặng bình dị ở miền Tây Bắc. Ông đò hiện lên tài hoa trí dũng với chất vàng mười đã qua thử lửa qua việc lồng ghép cuộc chiến đấu với con sông Đà hung bạo. Tác phẩm còn cho ta thấy công phu lao động nghệ thuật khó nhọc, cùng sự tài hoa, uyên bác của người nghệ sĩ Nguyễn Tuân trong việc dùng chữ nghĩa để tái tạo những kỳ công của tạo hóa và những kỳ tích lao động của con người. >>> Xem thêm tin: 10 Gợi ý để có cách sống vui vẻ lạc quan trong cuộc sống Cách học thuộc đoạn văn tiếng Anh nhanh nhất và dễ dàng

Xem ngay
Phân tích nhân vật Vũ Nương trong Chuyện người con gái Nam Xương

Phân tích nhân vật Vũ Nương trong Chuyện người con gái Nam Xương

Học tập - ngày 15 tháng 02 năm 2020

Hình ảnh người phụ nữ tài sắc vẹn toàn nhưng số phận bất hạnh từ lâu đã trở thành một đề tài bất tận trong nền văn học trung đại Việt Nam từ thế kỉ X đến thế kỉ XIX. Nguyễn Du xót thương cho thân phận Thuý Kiều tựa cánh hoa mỏng manh lênh đênh trôi dạt giữa sóng gió cuộc đời; Hồ Xuân Hương cất lên tiếng lòng của những người phụ nữ chung số phận “bảy nổi ba chìm”. Làn sóng nhân đạo, phê phán xã hội phong kiến dường như đã lan toả và thúc đẩy Nguyễn Dữ cho ra đời tác phẩm đặc sắc “Truyền kì mạn lục”. Trong đó, “Chuyện người con gái nam xương” thể hiện rõ nét tinh thần của tác phẩm, với nhân vật Vũ Nương- người phụ nữ mang vẻ đẹp hoàn mỹ nhưng lại mang một số phận bi thương.  Ngay từ đầu Nguyễn Dữ đã miêu tả Vũ Nương như là một hình mẫu lý tưởng của người phụ nữ trung đại, không chỉ xinh đẹp, nết na mà còn là một con người dịu dàng đoan trang, “tư dung tốt đẹp”, luôn sống trong khuôn giáo lễ nghi. Nàng có tên thật là Vũ Thị Thiết, quê ở Nam Xương, đến đây chúng ta càng thêm tin tưởng có một người phụ nữ hoàn mỹ như thế. Cũng chính vì đức hạnh của Vũ Nương đã khiến Trương Sinh đem lòng yêu thương, chàng đã nhờ người làm mối để lấy nàng làm vợ. Nàng được trân trọng, thương yêu và cưới hỏi tử tế bởi chính phẩm hạnh sáng ngời của nàng đã xoá đi ranh giới về quan điểm môn đăng hộ đối tồn tại bấy lâu nay.  Mặc dù lấy chồng ít học lại có tính đa nghi, gia trưởng, thế nhưng Vũ Nương vẫn luôn làm tròn bổn phận của một người vợ, cư xử khéo léo, thông minh, bởi vậy không khí gia đình lúc nào cũng yên ấm, “chưa từng xảy ra bất hoà”. Tuy nhiên, cuộc sống hạnh phúc, ấm êm ấy chưa kéo dài được bao lâu thì đất nước xảy ra chiến tranh, vì thất học nên Trương Sinh bắt buộc phải theo lệnh triều đình tòng quân đánh giặc. Những ngày tháng xa chồng, Vũ Nương đã thể hiện rõ những đức tính tốt đẹp của mình, nhưng bi kịch cũng bắt đầu xảy đến với nàng sau giờ phút xa chia ly ấy. Trước hết, Vũ Nương là một người có tấm lòng yêu thương son sắc, hết mực thuỷ chung với chồng. Lời dặn dò vô cùng xúc động của nàng trước lúc chồng ra tưởng như đời đời chứng minh cho phẩm hạnh tốt đẹp của nàng, nàng không tham vọng công danh của chồng, “chỉ xin ngày chàng về mang theo hai chữ bình yên, thế là đủ rồi”. Đây chính là một ước mơ nhỏ nhoi, bình dị của người phụ nữ ấy, luôn khao khát về một hạnh phúc gia đình trọn vẹn. Không những vậy, ẩn sau ước mơ nhỏ bé ấy là cả một tấm lòng chân thành, đằm thắm, không bị cám dỗ trước “vinh hoa phú quý”. Niềm mong mỏi lớn nhất của nàng là ngày chồng bình yên trở về, được hưởng thú vui “nghi gia nghi thất”, vợ chồng tái hợp, con cái sum vầy, được sống những ngày làm mẹ, làm vợ đúng nghĩa. Mặc dù xa chồng ngàn dặm nhưng Vũ Nương vẫn một lòng một dạ, tình cảm luôn hướng tới Trương Sinh nơi chiến trường. Phong cảnh thiên nhiên hữu tình “bướm lượn đầy vườn, mây che kín núi” gợi lên dòng chảy vô tận của thời gian, khiến cho Vũ Nương không thể ngăn được nỗi buồn thương, nhung nhớ chồng. Như vậy tác giả đã diễn tả hết sức tinh tế khiến cho nỗi niềm kín đáo mà da diết của nhân vật hiện lên vô cùng chân thật.  Ít lâu sau ngày chồng ra trận, Vũ Nương đã hạ sinh đứa con trai đầu lòng của Trương Sinh, đặt tên là Đản. Lúc này nàng phải gánh trọng trách vừa làm cha vừa làm mẹ để nuôi dưỡng đứa con bé nhỏ nên người. Tối đến, nàng thường chỉ chiếc bóng mình trên vách nói đó là cha Đản. Nàng làm vậy không phải chỉ để chơi đùa với con mà dường như đang an ủi chính mình, khiến cho nỗi cô đơn từng đêm lạnh lẽo qua đi khi tin rằng trong căn nhà nhỏ bé ấy lúc nào cũng có hình bóng của Trương Sinh. Suốt ba năm nàng lặng lẽ, âm thầm như thế, “tô son điểm phấn đã từng nguôi trong lòng, ngõ liễu tường hoa chưa hề bén góc”, thế nhưng tình cảm ấy sau này lại không được đền đáp! Không chỉ là một người mẹ hiền, người vợ hết mực thuỷ chung, Vũ Nương còn là một người con dâu hiếu thảo, hết lòng phụng dưỡng mẹ chồng già yếu. Khi chồng vắng nhà, một mình nàng gánh vác hết thảy công việc mà không than vãn một lời, vừa thay chồng chăm sóc mẹ già, vừa nuôi dạy con thơ. Tuy tác giả không trực tiếp miêu tả nhưng người đọc ngầm hiểu được sự vất vả của Vũ Nương khi một mình quán xuyến công việc gia đình. Người ta thường nói về mối quan hệ mẹ chồng nàng dâu không bao giờ hoà thuận, thế nhưng với Vũ Nương thì khác, nàng không hề ghét bỏ mà ngược lại luôn tận tình, chu đáo chăm lo cho mẹ chồng.  Tình cảm của nàng dành cho mẹ chồng là chân thật, khi mẹ ốm, nàng bày tỏ sự lo lắng chân thành và lực lời khuyên lơn. Đến khi bà qua đời, Vũ Nương cũng tự mình lo ma chay chu đáo giống y hệt như mẹ đẻ của nàng vậy. Bởi thế trước lúc lâm chung, bà đã dành cho Vũ Nương những lời có cánh “sau này trời xét lòng lành ban cho phúc đức giống dòng tươi tốt, rồi con cháu đông đàn, xanh kia quyết chẳng phụ con như con đã chẳng phụ mẹ”. Câu nói ấy đã chứng minh cho tấm lòng thành của Vũ Nương bởi ngay tại hơi thở cuối cùng, bà không oán trách số phận, không nói những lời lo lắng cho con trai mà lại dành những lời cảm ơn tới nàng dâu hiếu thảo.  Như vậy, lời cảm kích này đã phần nào làm tăng thêm tính khách quan và chân thực cho câu chuyện. Ngày đất nước hoà bình, Trương Sinh trở về, những tưởng sau bao vất vả cuối cùng Vũ Nương có thể nắm trong tay niềm hạnh phúc sum vầy bên chồng con. Thế nhưng, câu chuyện đã làm người đọc vô cùng xót xa và day dứt bởi hiên thực xảy đến với Vũ Nương quá tàn khốc đến nỗi khiến nàng phải gieo mình tự vẫn. Bi kịch xuất phát từ lời nói ngây thơ của trẻ  nhỏ, chỉ trách Vũ Nương bạc phận lấy phải người chồng vũ phu, độc đoán dẫn đến hàng tấn bi kịch cho cuộc đời mình. Hình ảnh “chiếc bóng” vốn là trò đùa để dỗ dành con thơ và phần nào làm vơi đi nỗi buồn nhớ của Vũ Nương, giờ đây chính là con dao hai lưỡi đẩy Vũ Nương đến con đường cùng. “Ô hay thế ra ông cũng là cha tôi ư? Ông lại biết nói chứ không như cha tôi… ngày nào cũng đến, mẹ Đản đi cũng đi, mẹ Đản ngồi cũng ngồi”. Chao ôi! Câu nói ngây dại của trẻ thơ sao mà làm đau lòng đến thế! Nó thổi bùng lên ngọn lửa ghen tuông vốn có trong con người Trương Sinh, chính là người đàn ông trước đây đã cảm động trước phẩm chất cao cả của Vũ Nương. Nhưng không còn nữa, tại giây phút này, kẻ hồ đồ, vũ phu ấy, bỏ ngoài tai tất cả những lời van xin rớm máu của vợ, lời biện bạch của hàng xóm. Và hơn cả, hắn rũ bỏ hết thảy những tháng ngày vợ hắn tần tảo sớm hôm, chăm sóc mẹ già, dạy dỗ con thơ. Quá sức chịu đựng, người con gái ấy không còn đủ mạnh mẽ để buông những lời tha thiết, thề non hẹn biển như trước, nhân phẩm của nàng coi như đã bị vẩn đục rồi, chỉ còn cách cuối cùng đó là dùng cái chết để minh chứng cho sự trong trắng của mình. Niềm khao khát được hàn gắn hạnh phúc gia đình của Vũ Nương lớn hơn bao giờ hết, thế nhưng để bảo vệ nhân phẩm của mình, nàng đã tự nguyện để mình hồi sinh thêm một lần nữa. Bởi lẽ, trong xã hội phong kiến lúc bấy giờ, đối với người phụ nữ, không có điều gì đáng quý trọng hơn trinh tiết.  Yếu tố kì ảo ở cuối truyện dường như đã phần nào thể hiện sự cảm thông của nhà văn đối với số phận bất hạnh của Vũ Nương. Cái chết của nàng đã khiến Trương Sinh thoáng chút động lòng, thế nhưng nỗi oan của Vũ Nương vẫn chưa được hoá giải. Mặc dù nàng may mắn có được một cuộc sống sung sướng, hoà hợp dưới thuỷ cung nhưng vẫn một lòng một dạ thương nhớ về chồng con. “Ngựa hồ gầm gió bắc, chim Việt đậu cành nam, tôi tất phải trở về có ngày”, câu nói mà nàng nói với Phan Lang khiến người đọc không khỏi xót xa. Điều này thể hiện tấm lòng khoan dung của Vũ Nương, nàng không đem lòng căm thù nơi trần thế vì đã khiến nàng phải chết một cách oan uổng, mà trái lại ngày đêm vấn vương cuộc sống nơi trần tục. Đến đây, người đọc càng thấu tỏ cái đức hạnh của người phụ nữ đáng thương ấy.  Như vậy, câu chuyện tuy ngắn nhưng thông qua nhân vật Vũ Nương, Nguyễn Dữ đã truyền tải đến người đọc những thông điệp ý nghĩa. Thảm kịch của Vũ Nương chính là lời tố cáo chiến tranh phi nghĩa, vì đã cướp đi hạnh phúc êm ấm của biết bao gia đình, khiến vợ chồng chia cắt, con cái mồ côi. Giả sử Trương Sinh không phải đi lính, không phải rời xa gia đình, thì có lẽ khao khát của Vũ Nương sẽ sớm thành hiện thực, nàng sẽ có được hạnh phúc viên mãn hơn bao giờ hết. Định kiến xã hội bấy giờ thật vô cùng đáng sợ, nó giết chết bao niềm hy vọng của con người, đặc biệt là người phụ nữ. Không những thế, ngòi bút nhân đạo của Nguyễn Dữ còn chiến đấu chống lại lễ giáo phong kiến lúc bấy giờ, phê phán tư tưởng “trọng nam khinh nữ” và thói gia trưởng cũng như sự phân biệt khoảng cách giữa kẻ giàu người nghèo. Nhà văn xót thương trước những thân phận phụ nữ dù thuỷ chung son sắc nhưng lại bị xã hội vùi dập, đồng thời đề cao vẻ đẹp của họ trong cái xã hội mục rũa thối nát đương thời.  Tóm lại, nhờ vào tài năng sáng tạo của Nguyễn Dữ, “chuyện người con gái Nam Xương” đã vượt ra khỏi cái khuôn khổ ban sơ của truyện cổ tích “Vợ chàng Trương”. Câu chuyện khép lại nhưng để lại trong lòng người đọc nhiều suy ngẫm và nuối tiếc, xót thương cho thân phận người con gái trinh bạch nhưng bị vùi dập bởi xã hội phong kiến. Thông qua nhân vật này, Nguyễn Dữ đồng thời phê phán xã hội đương thời đầy rẫy những điều oan trái, bất công xảy đến với người phụ nữ; hơn thế nữa, tác phẩm còn đề cao khát vọng cao cả về hạnh phúc gia đình. >> Tham khảo thêm bài: Cách rèn luyện giúp não bộ luôn được khỏe mạnh và linh hoạt EQ là gì? Cùng tìm hiểu về chỉ số cảm xúc EQ

Xem ngay
Tổng hợp những trung tâm luyện thi IELTS giá rẻ hiện nay

Tổng hợp những trung tâm luyện thi IELTS giá rẻ hiện nay

Học tập - ngày 15 tháng 02 năm 2020

Nếu bạn đang đi tìm trung tâm luyện thi ielts ở Hà Nội để phù hợp với túi tiền của sinh viên thì hãy theo dõi bài viết về tổng hợp những trung tâm luyện thi ielts giá rẻ của mình nhé.  1. Trung tâm luyện thi ielts giá rẻ có chất lượng như thế nào Có bao giờ bạn thắc mắc rằng “tiền nào của nấy” thì các trung tâm luyện thi có giá rẻ thì có chất lượng kém chưa.  Nếu bạn đang tìm kiếm trung tâmtiếng Anh vừa có giá rẻ nhưng có chất lượng tốt thì mình sẽ gợi ý cho bạn những trung tâm vừa có giá học phí sinh viên mà vẫn có chất lượng đào tạo tốt nhé. Thực ra thì một điều chắc chắn rằng học có tiến bộ và chất lượng hay không thì tùy vào thái độ học tập của học viên. Vì các trung tâm đều chỉ truyền đạt lại cho các bạn kiến thức chung và giảng đề cho bạn, khi bạn có ý thức học bạn sẽ phải nghiên cứu học hỏi thì việc học mới hiệu quả cao. Còn ngoài học tại trung tâm mà bạn lại không có ý thức học tại nhà thì kiến thức của bạn sẽ không còn bởi sự lãng quên. 2. Trung tâm ABIT. Đây là một trung tâm có các khóa học có giá mềm hơn so với giá các khóa học khác trên thị trường.   Trung tâm có nhiều cơ sở như cơ sở ở Hoàng Cầu, Xuân Thủy, Lê Thanh Nghị,..Tại trung tâm các khóa học sẽ được rút gọn lộ trình hợp lý. Thông thường đối với những học viên mất gốc mà muốn đạt được trình độ  6.5 thì sẽ có lộ trình học kéo dài 5 khóa học.  Tùy vào trình độ từng khóa học mà có giá khác nhau. - Khóa Pre IELTS  trình độ từ 3.0 – 4.0 có giá khoảng 4.200.000 đồng - Khóa IELTS A trình độ từ 4.0 – 5.0 có giá khoảng 4.800.000 đồng - Khóa IELTS B trình độ từ 5.0 – 6.0 có giá khoảng 5.100.000 đồng - Khóa IELTS INTENSIVE  trình độ từ 6.0 – 7.0 có giá khoảng 5.100.000 đồng. Khi học tại đây các bạn luôn được cập nhật tài liệu mới. Ngoài ra trung tâm có 2 câu lạc bộ, các bạn có thể tham gia bên trong đó có các anh chị trợ giảng và các giảng viên luôn nhiệt giúp đỡ các bạn gặp khó khăn khi học. Các bạn sẽ được kết nối với nhau tạo cho nhau những động lực học tập hơn.  3. Ngoại ngữ Hà Nội Tại đây học phí trung bình trong 1 tháng rơi vào khoảng 1500000 đồng tới 2000000 đồng. Các khóa học cũng được chia theo trình độ. Mỗi khóa có số buổi và mức học phí khác nhau. - Khóa Pre ielts trình độ 3.0 – 4.5. Khóa học gồm 20 buổi với học phí là 2.850.000 đồng. Khóa học được mở ra dành cho những bạn có trình độ trung cấp. Học khóa học này các bạn được trang bị cho mình những kỹ năng cơ bản để tiếp cận với các kì thi ielts chuẩn quốc tế. Ngoài ra các bạn cũng sẽ được học các phương pháp làm bài tập hiệu quả và các mẹo làm bài. - Khóa IELTS trình độ 4.5 – 5.5. Khóa học gồm 20 buổi với mức học phí là 2.880.000 đồng. Khóa học được mở ra cho những bạn đang chuẩn bị cho kỳ thi ielts. Học viên sẽ được học những chiến thuật và mẹo làm bài tập để đạt được kết quả tốt nhất. - Khóa IELTS 5.5 – 7.0. Khóa học gồm 20 buổi với học phí 3.200.000 đồng. Khóa học phù hợp với những người đã có kiến thức và hiểu biết về kỳ thi IELTS.  4. Trung tâm  EL ENGLISH ACADEMY. Khóa học chỉ giới hạn nhiều nhất là 3 học viên trong 1 lớp học để đảm bảo tuyệt đối chất lượng của các học viên. Khi học tại đây, học viên dùng giáo trình đã được soạn theo từng trình độ học của mình, nó sẽ giúp bạn tăng điểm ielts trong thời gian ngắn. Khóa học có thể phù hợp với những bạn muốn học cấp tốc trong 1 – 2 tháng. Trên đây là những trung tâm luyện thi ielts giá rẻ ở thời điểm hiện tại. Bên cạnh những trung tâm có tên tiếng và giá phù hợp với túi tiền của sinh viên thì cũng có nhiều những trung tâm luyện thi nhỏ khác có mức học phí rẻ. Để tìm cho mình một khóa học phù hợp thì bạn nên lựa chọn kĩ nhé. Bài viết của mình xin được dừng tại đây, hy vọng bài viết sẽ giúp bạn chọn được trung tâm phù hợp.  >> Xem thêm ngay: Các cách luyện nói tiếng Anh hiệu quả nhất hiện nay Tổng hợp các thì trong tiếng Anh cách sử dụng thế nào?

Xem ngay
Thuyết minh về loài cây được mệnh danh là “Hoa học trò” Phượng vĩ

Thuyết minh về loài cây được mệnh danh là “Hoa học trò” Phượng vĩ

Học tập - ngày 14 tháng 02 năm 2020

Có lẽ, quãng đường áo trắng cắp sách đến trường là khoảng thời gian với nhiều kỷ niệm  ngây thơ và hồn nhiên nhất của lứa tuổi học trò. Trong những năm tháng ấy, kề cạnh chúng ta luôn thấp thoáng hình ảnh của một cây phượng già. Cây phượng như một vị hiệp sĩ đứng sừng sững giữa sân trường, dang ra cánh tay rộng lớn, ngăn nắng che mưa cho học sinh. Và rồi cùng học sinh có với nhau bao kỷ niệm vui buồn trong những giờ ra chơi. Là những hôm, bọn học sinh đua nhau hái hoa phượng để ép vào trang lưu bút. Có lẽ những năm tháng ấy sẽ vô cùng tẻ nhạt nếu thiếu mất đi cây phượng già. Bài viết sau đây của mình sẽ thuyết minh về loài cây này.  Trong như năm tháng được làm học sinh, mỗi chúng ta ai cũng có cho mình những kỷ niệm đẹp nhất, đáng nhớ nhất. Đó có thể là bóng dáng hình ảnh của một cây phượng vỹ, đứng sừng sững giữa hai bên lối đi vào sân trường như hai chú lính gác cổng. Đặc biệt hơn chính là những bông hoa phượng vĩ, loài hoa gợi nhắc biết bao nhiêu ký ức buồn vui của tuổi học trò.  Phượng vĩ không phải là loài cây có nguồn gốc từ Việt Nam mà chúng đến từ đất nước mang tên Madagascar. Delonix regia là tên khoa học của loài hoa màu đỏ này. Bên cạnh cái tên phượng vĩ thì loài cây này còn được gọi là  xoan tây, điệp tây. Phượng vĩ thích hợp sống ở môi trường có khí hậu nhiệt đới hoặc cận nhiệt đới: khí hậu nóng ẩm, mưa nhiều, nhiệt độ cả năm đều trên ngưỡng 20 độ C. Loài cây này du nhập vào Việt Nam là nhờ người Pháp vào những năm cuối thế kỷ 19, họ trồng chúng ở các thành phố lớn như Đà Nẵng, Thành phố Hồ Chí Minh, Hải Phòng. Trong đó, loài cây này có lẽ được trồng nhiều ở tỉnh Hải Phòng và chính những chùm hoa mang sắc đỏ của phượng vỹ đã giúp thành phố này mang tên “ thành phố hoa phượng đỏ”. Ngày nay, chúng ta thường bắt gặp hình ảnh cây phượng ở bất kỳ đâu trên lãnh thổ Việt Nam, đặc biệt là ở nơi có khuôn viên rộng như trường học, cơ quan, công viên. Loài cây phượng này thuộc gia đình thân gỗ, có lớp vỏ ngoài màu nâu, thân cây xù xì và sần sùi. Phải cần có đến hai bạn học sinh tiểu học thì mới ôm hết trọn thân của một cây trưởng thành. Những cây nào mà sống thọ thì trên thân cây còn xuất hiện những cục u xung quanh. Cây phượng có chiều cao trung bình dao động từ 10m cho đến 15m, nếu cây sống lâu năm thì có thể vượt ngưỡng 20 m. Tức là chiều cao của nó ngang với chiều cao của một ngôi nhà có hai tầng. Là loại cây được lựa chọn trồng trong khuôn viên của trường học bởi vì thân phượng tỏa ra rất nhiều tán lá để tạo bóng mát cho bọn học trò vào những giờ ra chơi. Đây là loài cây thuộc họ nhà rễ cọc nên chúng bám vào đất rất sâu và chắc, nhằm hút nước và chất dinh dưỡng để nuôi sống cây, mà không cần bàn tay chăm sóc của con người quá nhiều. Khi mà lớp đất ở trên bề mặt rễ cây phượng bị xói mòn, ta sẽ thấy những rễ phượng hiện ra với hình thù ngoằn ngoèo, chi chít như những con rắn con. Cũng vì nhờ những ưu điểm trong cấu tạo của bộ rễ mà phượng có thể vững vàng chịu đựng trước mưa gió, bão bùng ở một đất nước nhiều thiên tai như là Việt Nam.  Phượng là loài cây lá kép, có kích thước khá nhỏ, chỉ chừng 0,5 cm. Từng chiếc lá nhỏ bé và mỏng như lá me, mọc đối xứng nhau qua một tán lá nhỏ hình xương lá. Những chiếc lá tuy bé nhỏ là thế nhưng khi kết hợp lại với nhau, chúng tạo nên những tán lá cây vô cùng cao và rộng. Từ thân cây mọc ra những cành chính, rồi từ cành chính tiếp tục nhô ra những cành nhỏ hơn và cứ như vậy mà tạo ra một chiếc ô khổng lồ giữa không trung. Chiếc ô ấy không chỉ tạo bóng mát vào mỗi giờ ra chơi của bọn học sinh mà còn giúp che những cơn mưa đầu mùa đến bất chợt. Lá phượng có màu sắc chuyển đổi theo mùa, mùa xuân là màu xanh non, hè đến thì màu sắc bậc đầu sẫm hơn, thu về  thì bắt đầu ngả vàng. Để rồi khi vào đông, phượng rụng hết lá, để lại mỗi thân cây và cành cây khẳng khiu cho đến khi mùa xuân năm sau trở lại.   Điều mà mỗi học sinh đều trông chờ nhất trong năm chính là giây phút hoa phượng nở. Đó là vào mỗi tháng sáu, khi tiếng ve bắt đầu râm ran khắp mọi nẻo đường. Bông hoa phượng chủ yếu có năm cánh và mỏng manh. Trong số ấy thì có một cánh có cấu tạo dày hơn, mọc thẳng hơn và có kích thước lớn hơn những cánh hoa còn lại và duy nhất cánh hoa ấy có màu xen lẫn vài đốm trắng. Ở chính giữa của mỗi bông hoa chính là nhụy hoa và nhị hoa, có hình bầu dục, giúp bông hoa vô cùng thu hút và rạng rỡ. Bởi lẽ vậy mà những loài ong hay bướm thậm chí là con người đều bị lôi cuốn. Điểm riêng của hoa phượng là chúng không mọc đơn lẻ mà kết thành từng chùm tạo nên ngọn lửa đỏ rực, làm bừng sáng cả một vùng trời. Khi hoa phượng rụng hoặc gặp phải cơn gió mạnh, cánh hoa sẽ bay bay trong gió, tạo nên một khoảnh khắc vô cùng đẹp  Điều ấy đã tạo nên điểm nhấn cho loài cây này, giúp chúng thu hút ánh nhìn của mọi người xung quanh. Khi mùa hoa đi qua cũng là lúc xuất hiện những quả phượng màu xanh, dài khoảng 20cm đến 60cm và có quả thì cong hình lưỡi liềm. Khi quả già đi thì có nhiều hạt ở bên trong và vỏ ngoài của quả chuyển sang đen. Hạt của quả phượng có thể ăn được và sử dụng để làm bộ gõ trong âm nhạc mang tên Maraca.  Phượng là loài cây vô cùng phổ biến bởi chúng được trồng ở khắp mọi nơi trên đất nước Việt Nam. Phượng không phải là loài cây khó sống ở nước ta nên việc chăm bón cho cây không gặp quá nhiều khó khăn. Chúng có chế độ sinh trưởng đơn giản, khả năng chịu được hạn rất tốt. Ngoài ra chúng sống rất vững vàng ngay cả địa hình có nhiều thiên tai. Chúng thường được trồng ở những nơi công cộng như công viên, khu vui chơi giải trí, trường học, các cơ quan, trên đường phố vỉa hè. Tán cây phượng rộng lớn giúp tạo bóng mát cả một khoảng không gian cho bọn học sinh vào mỗi giờ ra chơi. Khi tiếng trống trường vang lên, học sinh mỗi lớp học ùa ra như bầy ong vỡ tổ, chạy đi tìm chỗ để vui chơi. Nhờ có bác phượng, nhóm bên này thì chơi trò nhảy dây, bắn bị, nhóm bên kia thì chơi trốn tìm. Ở một góc khác dưới bóng phượng, có một nhóm bạn đang tỉ tê những câu chuyện nói dở, những mẩu chuyện tấu hài giúp giải tỏa căng thẳng sau một giờ học mệt mỏi. Đây còn là địa điểm lý tưởng để có  một không gian ôn bài tuyệt diệu. Tán lá phương còn giúp ta trú tạm khi có một cơn mưa bất chợt trút xuống, khi bác nông dân nghỉ chân trên đường đi làm về. Phượng giúp tô thêm màu sắc tươi sáng cho từng dãy phố con đường vào mỗi mùa hoa nở, hè về. Khung cảnh kết hợp giữa sắc đỏ của hoa phượng cùng sắc tím của bằng lăng sẽ tạo nên một bức tranh vô cùng rạng rỡ.  Bên cạnh những công dụng giúp che bóng mát và tạo nên vẻ mỹ quan đô thị thì mỗi bộ phận của phượng cũng có những vai trò nhất định đối với đời sống của con người. Đâu tiên là thân phượng, thuộc loài thân gỗ nên có thể dùng để sản xuất ra các vật gia dụng như bàn, ghế, cửa. Vỏ cây và rễ cây phượng dùng để điều chế thuốc trị bệnh sốt rét và hạ nhiệt. Thứ hai là phượng thuộc nhóm rễ cọc nên chúng bám rất chắc vào đất nên người dân còn trồng phượng để phòng chống xói mòn đất, đặc biệt là những vùng thường xuyên gánh chịu  lũ. Tán lá cây rộng nên góp phần chắn gió vào mỗi mùa bão về.  Cứ mỗi mùa hoa phượng nở là mùa thu lại về, là mùa các bạn học sinh bắt đầu nghỉ hè. Buồn hơn nữa là giây phút học sinh năm cuối cấp phải chia tay bạn bè của mình để thi vào một ngôi trường mới. Từng bức ảnh kỷ yếu lưu giữ về giây phút chia tay bên cây hoa phượng vẫn còn đến bây giờ. Chắc có lẽ mỗi chúng ta ai cũng từng là học sinh, cũng biết cái cảm giác háo hức chờ ngày phượng ra hoa. Là giây phút đua nhau trèo lên cây ngắt nhánh hoa phượng về ép vào trang vở, có vài đứa nghịch ngợm thì dùng dép ném lên. Các bạn nam là người giúp các bạn nữ hái hoa, rồi cùng chia nhau mang về ép vào từ trạng lưu bút. Đó là cánh hoa tạo thành cánh bướm, nhụy hoa thì dùng làm râu bướm và chờ ngày hoa khô lại hoặc ra cho nhau làm kỷ niệm. Cảm giác ấy hình ảnh ấy rồi sẽ trở thành kỷ niệm trong mỗi chúng ta, để bây giờ vẫn còn có cái để mà nhớ lại, ôn lại. Bởi sự thân thuộc của hình ảnh cây phượng với người dân Việt Nam con người người Việt Nam mà phượng đã trở thành nguồn cảm hứng cho biết bao nhạc sĩ, nhà thơ, nhà văn. Với các tác phẩm quen thuộc mà có lẽ chúng ta đã được nghe qua như bài hát Phượng hồng, Phượng buồn,...  Phượng sống từ 20 năm cho đến 30 năm thì thân cây bắt đầu mục nát, già cỗi và chết. Nếu được chăm sóc và ở môi trường thuận lợi hơn như trường học hay cơ quan thì tuổi thọ có thể tăng lên đến 50 năm. Bởi hình ảnh cây phượng, hoa phượng là một phần kỷ niệm trong những năm tháng cắp sách đến trường của học sinh nên hoa phượng đỏ còn có tên gọi khác là “ hoa học trò”. Có thể nói rằng, tình cảm mà lứa tuổi học sinh dành cho hoa phượng thật sự đặc biệt, đó là ký ức về những năm tháng vui tươi nhất, hồn nhiên nhất của đời học sinh. Cây phượng vĩ là người bạn của lũ học trò, người bạn của nông dân của mỗi con người Việt Nam. Phượng đã mang lại cho đất nước này những lợi ích không chỉ về vật chất mà còn những giá trị  tinh thần thật đáng quý, thật thiêng liêng. Dù là một loài cây vô tri vô giác nhưng phượng đã trở thành một biểu tượng một hình ảnh không thể thiếu đối với mỗi người học sinh. >> Tham khảo ngay: 4 Kỹ năng tiết kiệm tiền cho sinh viên khỏi lo cháy túi 5 Lợi ích của việc đọc sách mang lại cho mọi người

Xem ngay
Tổng hợp phân tích bài thơ Tây Tiến của nhà thơ Quang Dũng

Tổng hợp phân tích bài thơ Tây Tiến của nhà thơ Quang Dũng

Học tập - ngày 14 tháng 02 năm 2020

Âm hưởng chung của tây tiến là tiếng vọng của một cõi lòng nhớ nhung, da diết về một thời tây tiến hào hùng, lãng mạn, bi tráng. Tham khảo bài phân tích bài thơ Tây Tiến dưới đây Nhà thơ Quang Dũng là nghệ sĩ đa tài với phong cách thơ phóng khoáng, hồn hậu, tài hoa, lãng mạn. Ông để lại cho đời rất ít tác phẩm và nổi bật nhất là bài thơ “Tây Tiến”- tác phẩm hàng đầu thơ ca cách mạng.  Nhắc đến tên tuổi nhà thơ Quang Dũng, người đọc đều nhớ đến người nghệ sĩ đa tài này với đầy đủ thi ca nhạc họa. Ông vừa viết thơ, vẽ tranh và cả sáng tác nhạc. Với khuynh hướng sáng tác hiện thực cách mạng kết hợp yếu tố lãng mạn, ngôn ngữ bay bổng khoa trương đã chắp cánh cho những sáng tác của Quang Dũng dễ đi vào lòng người. Trong đó phải kể đến bài thơ Tây Tiến. Tây Tiến là đơn vị bộ đội thuộc thời kì đầu cuộc kháng chiến chống Pháp. Trung đoàn chiến đấu gian khổ, oanh liệt ở vùng biên giới Việt Lào và Tây Bắc. Trong đơn vị có nhiều thanh niên trí thức Hà Nội hào hoa, thanh lịch. Họ ra trận với phong thái trượng phu, với tinh thần lạc quan.  Sau một thời gian hoạt động ở Lào đoàn quân trở về Hòa Bình và thành lập trung đoàn 52. Quang Dũng chuyển đơn vị mới về Phù Lưu Chanh, nhớ lại một thời cùng đồng đội chiến đấu đánh giặc cứu nước. Nhà thơ viết bài thơ “nhớ Tây Tiến” năm 1948 và khi in thì nhà thơ đổi tên thành “Tây Tiến”.  Những câu thơ mở đầu chính là nỗi nhớ tha thiết chơi vơi của nhà thơ về những năm tháng hành quân trong quãng đời người lính Tây Tiến.  Sông Mã xa rồi Tây Tiến ơi Nhớ về rừng núi nhớ chơi vơi Giọng điệu cảm thán mở đầu cảm hứng nhớ thương của bài thơ. Nỗi niềm thương nhớ chất chứa trong ký ức nhà thơ bỗng bùng phát thành dòng tâm trạng thiết tha vọng về quá khứ một miền đất lịch sử-sông Mã và một Tây Tiến anh hùng. Niềm hoài niệm lan tỏa không gian, thời gian. Nỗi bâng khuâng, bồi hồi, nuối tiếc nhớ về một thời chinh chiến đã “xa rồi”.  Nhớ về một thời Tây Tiến oanh liệt và bi thương. Từ đây ta nhận thấy điểm nhìn của nhân vật trữ tình từ hiện tại hướng về quá khứ, hướng về một thời gian đã xa, hướng về một một không gian đã qua. Điệp từ “nhớ” được lặp lại hai lần ở vị trí ngắt nhịp diễn tả nỗi nhớ cồn cào mãnh liệt.  ‘Nhớ chơi vơi” là nỗi nhớ nhung dâng trào mênh mang lan tỏa không gian, nỗi nhớ như hữu hình như sương khói giăng mắc đất trời Tây Bắc. Âm vần “ôi”, “ơi” gợi cái xa xăm của thời gian, của ký ức hoài niệm chất chứa nỗi nhớ niềm thương man mác, bâng khuâng.  Sài Khao sương lấp đoàn quân mỏi Mường Lát hoa về trong đêm hơi Trong kí ức hoài niệm của nhà thơ hiện về bóng dáng đồng đội Tây Tiến hành quân: ra trận giữa núi rừng miền Tây hùng vĩ, dữ dội, vô cùng khắc nghiệt nhưng cũng mĩ lệ, hư ảo. Những địa danh Sài Khao, Mường Lát gợi không gian xứ lạ hoang vu. Ngôn từ tạo hình vẽ cảnh mịt mù sương khói, hoa lệ huyền ảo. Quang Dũng có biệt tài vận dụng địa danh tạo âm điệu khi dữ dằn, khi bay bổng gợi tả hình ảnh con đường hành quân. Những địa danh thấm đậm nỗi nhớ cụ thể, nỗi nhớ có chiều sâu.  Dốc lên khúc khuỷu dốc thăm thẳm Heo hút cồn mây súng ngửi trời Ngàn thước lên cao ngàn thước xuống Nhà ai Pha Luông mưa xa khơi Với những câu thơ dày đặc thanh trắc cùng sự vận dụng linh hoạt với từ láy gợi hình đã khắc họa được cảnh núi rừng miền Tây hùng vĩ, hiểm trở, thiên nhiên Tây Bắc dốc thẳm đèo cao. Hai từ “dốc” mở đầu hai nhịp thơ tạo điểm nhấn về giọng điệu diễn tả dốc đèo trùng điệp “khúc khuỷu- thăm thẳm” không có điểm dừng. Ngôn ngữ thơ vừa tả thực tả khoa trương, cường điệu.  Những dòng thơ tả hình ảnh không gian con đường hành quân hiểm trở, khắc nghiệt, kì ảo, thơ mộng in dấu chân đoàn quân Tây Tiến mệt mỏi và can trường, ý chí đội trời và tâm hồn bay bổng. Khúc quân hành âm vang tiếng nhạc dữ dội và man mác, réo rắt và uyển chuyển. Xuân Diệu từng cảm nhận về bài thơ Tây Tiến: “Đọc Tây Tiến có cảm giác như ngậm âm nhạc trong miệng”. Thơ Quang Dũng là bản hòa tấu của thơ, nhạc và họa. Trong sáu câu tiếp theo, nhà thơ tập trung miêu tả hình ảnh người lính gắn liền không gian núi rừng.  Anh bạn dãi dầu không bước nữa Gục lên súng mũ bỏ quên đời Cái bay bổng lãng mạn không thể lấn át cái khốc liệt của hiện thực chiến tranh, cảm hứng bi thương vẫn thường trực trong mạch thơ hùng tráng. Người lính hành quân gian khổ, triền miên, mệt mỏi. Hình ảnh thơ: “Gục lên súng mũ bỏ quên đời” có thể hiểu là người lính chìm vào giấc ngủ mê mệt cũng có thể hiểu người lính kiệt sức ngã xuống giữa đường hành quân. Từ láy “dãi dầu” chất chứa lòng yêu mến xót thương đồng đội của Quang Dũng. Cụm từ “bỏ quên đời” diễn tả cái ngang tàng của anh lính trẻ ít nhiều gợi người đọc nghĩ đến khí chất của anh bộ đội cụ Hồ.  Bút pháp lãng mạn tô đậm khung cảnh thiên nhiên Tây Bắc với nét đặc trưng của núi rừng từ đó phát hiện khí phách, tâm hồn người lính Chiều chiều oai linh thác gầm thét Đêm đêm Mường Hịch cọp trêu ngươi Nhớ ôi Tây Tiến cơm lên khói Mai Châu mùa em thơm nếp xôi Người lính Tây Tiến quả cảm, can trường vượt rừng thiêng núi hiểm, vượt qua con đường dữ đội điệp trùng. Âm điệu thơ đang căng thẳng dồn nén bỗng buông chùng êm ả. Lời thơ miêu tả âm thanh núi rừng vừa linh thiêng, huyền bí vừa mượt mà êm dịu. Âm điệu nặng nề, dữ dội “Mường Hịch cọp trêu người”  đối lập âm điệu mềm mại, bâng khuâng “Mai Châu mùa em thơm nếp xôi”. Bốn câu thơ đầu đoạn thơ thứ hai là nhớ của nhà thơ lắng sâu hình ảnh hào hoa, lãng mạn trong không khí  hội đuốc hoa giữa miền tây mỹ lệ, thơ mộng.  Doanh trại bừng lên hội đuốc hoa Kìa em xiêm áo tự bao giờ Khèn lên man điệu nàng e ấp Nhạc về Viên Chăn xây hồn thơ Đêm hội đuốc hoa không chỉ rực rỡ sắc màu mà còn lưu ấn tượng ở âm thanh tiếng khèn dìu dặt: Khèn lên man điệu nàng e ấp Nhạc về Viêng Chăn xây hồn thơ Câu thơ tả âm thanh hội đuốc hoa bằng chuỗi thanh bằng gợi âm điệu mênh mang chơi vơi –âm điệu trong cuộc sống những tâm hồn lãng mạn giữa kháng chiến gian lao. Bức tranh hội đuốc hoa âm vang tiếng nhạc, nhạc rừng huyền diệu, nhạc tâm hồn say mê. Chất men say lãng mạn giúp người lính thoát khỏi sức ép nặng nề của hoàn cảnh chiến đấu khắc nghiệt.  Những câu thơ tiếp theo là bức tranh thiên nhiên miền Tây Bắc hoang sơ, dữ đội, thơ mộng. Người đi Châu Mộc chiều sương ấy Có thấy hồn lau nẻo bến bờ Có nhớ dáng người trên độc mộc Trôi dòng nước lũ hoa đong đưa Bức tranh sông nước miền Tây mùa nước lũ thường mang nét dữ dội nhưng trong cái nhìn lãng mạn của người lính Tây Tiến chỉ lưu giữ những nét thơ mộng, hoang sơ. Bức tranh được phác họa bởi vài đường nét với sắc màu hư ảo gợi tả bức tranh thủy mặc xưa. Cảnh vật và con người lặng lẽ, huyền bí như trôi trong mộng ảo có sức hấp dẫn lớn. Lời thơ là dòng hoài niệm nhớ nhung, ngọt ngào về một miền đất lạ đã vô cùng thương mến của một thời chinh chiến  Sang những câu thơ của đoạn ba, tác giả khắc họa chân dung người lính Tây Tiến được miêu tả trực tiếp.  Tây Tiến đoàn binh không mọc tóc Quân xanh màu lá dữ oai hùm Mắt trừng gửi mộng qua biên giới Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm    Nét đẹp của người lính Tây Tiến được Quang Dũng diễn tả qua ngoại hình khác thường “không mọc tóc”, “quân xanh màu lá”. Chính hoàn cảnh chiến đấu gian khổ, khắc nghiệt nơi lam sơn chướng khí với bệnh sốt rét rừng hoành hành đã in dấu lên ngoại hình khác thường đó.  Ngòi bút Quang Dũng không né tránh hiện thực nhưng tả hiện thực bằng cảm quan lãng mạn, cảm quan cách mạng bằng cả tấm lòng xót thương đối với đồng đội.  Bốn câu thơ tiếp theo, tác giả khắc họa vẻ đẹp kiêu hùng, bi tráng của người lính Tây Tiến với sự hy sinh cao cả Rải rác biên cương mồ viễn xứ Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh Áo bào thay chiếu anh về đất Sông Mã gầm lên khúc độc hành Quang Dũng miêu tả cái chết với cảm hứng lãng mạn với tinh thần bi tráng, đặt cái chết trong bối cảnh không gian rộng lớn hào hùng âm vang hồn thiêng sông núi cho nên bài thơ nói nhiều đến cái chết mà không gây bi quan nản lòng trái lại lời thơ tạo ra tinh thần bi tráng hào hùng. Nhà thơ bảo tồn tinh thần chiến đấu oanh liệt của người liệt người lính cách mạng bằng hình tượng nghệ thuật hoành tráng lãng mạn thể hiện một quan niệm thẩm mỹ “Cái đẹp là hi sinh cho tổ quốc”.  Qua những dòng hồi niệm, đến những câu thơ cuối cùng khi trở về thực tại nhà thơ khẳng định sự gắn bó với đồng đội, với mảnh đất và con người miền Tây Bắc. Qua những câu thơ sau Tây Tiến người đi không hẹn ước Đường lên thăm thẳm một chia phôi Ai lên Tây Tiến mùa xuân ấy Hồn về Sầm Nứa chẳng về xuôi Lời thơ là lời tâm nguyện âm thầm mà thủy chung, son sắt của tất cả những “ai lên Tây Tiến” bởi trong lòng họ thời gian gắn bó với trung đoàn với miền Tây từ “màu xuân ấy” là khoảng thời gian quý giá nhất trong cuộc đời.  Dù chia xa nhưng tâm hồn người lính Tây Tiến sẽ mãi đi về với miền Tây với vùng đất xa xôi đông đầy kỉ niệm cùng đồng đội với những năm tháng gian khổ hào hùng bởi “Khi ta ở chỉ là nơi đất ở/ Khi ta đi đất bỗng hóa tâm hồn”.  Khổ thơ đã bày tỏ tình cảm ngưỡng mộ tôn vinh sự hy sinh cao cả của người lính Tây Tiến. Âm điệu của những câu thơ như một lời thề thiêng liêng hào hùng. Đó cũng chính là tâm niệm của cả một thời đại.  Với việc vận dụng linh hoạt bút phát lãng mạn triệt để trong việc tả cảnh núi rừng Tây Bắc cũng như khắc họa chân dung người lính Tây Tiến. Kết hợp ngôn ngữ giàu chất tạo hình và giọng thơ hoài niệm tha thiết. Qua đó nhà thơ Quang Dũng đã bộc lộ tình cảm nhớ nhung da diết mãnh liệt với Tây Tiến và những năm tháng gian khổ hào hùng.  Dù ra đời từ rất lâu rồi nhưng sức hút của bài thơ Tây Tiến vẫn luôn sống mãi trong tâm hồn người đọc với những tình cảm sâu lắng nhất. Qua bài phân tích bài thơ Tây Tiến, chúng ta sẽ hiểu thêm về cuộc đời của những người lính kháng chiến. Đồng thời bày tỏ lòng biết ơn về những hy sinh cao cả thầm lặng của họ để ta được sống cuộc sống hòa bình, độc lập như ngày hôm nay.  >>> Xem thêm tin: Phân tích vẻ đẹp hình tượng người lái đò sông Đà Phương pháp quản lý thời gian hiệu quả nhất bạn nên biết

Xem ngay
Tình yêu thương thầm kín của Tú Xương trong bài thơ “Thương vợ”

Tình yêu thương thầm kín của Tú Xương trong bài thơ “Thương vợ”

Học tập - ngày 14 tháng 02 năm 2020

Nhắc đến bậc thầy trào phúng của nền văn học trung đại Việt Nam, ta không thể không nhắc đến Tú Xương. Trong bài thơ “Thương vợ”, ngòi bút trào phúng cũng hiện lên qua những hình ảnh chế giễu chính mình, một người chồng “ăn bám” vợ. Thế nhưng ẩn sâu trong những tiếng cười chua cay đó, lại là tấm lòng của một người chồng hết mực thương yêu, thấu hiểu cho người vợ suốt đời tần tảo của mình.  Trong nền văn học trung đại Việt Nam, thơ viết về thân phận người phụ nữ không nhiều, thơ viết về vợ lại càng hiếm thấy. Thế nhưng Tú Xương lại có hẳn một đề tài thơ về vợ, điều này cũng đủ cho thấy ông yêu thương, trân trọng vợ biết nhường nào. Bài thơ được viết theo thể thơ thất ngôn bát cú, là một trong số những bài thơ xuất sắc trong mảng thơ trữ tình của Tú Xương. Mở đầu bài thơ là hình ảnh nói lên công việc của người vợ  “Quanh năm buôn bán ở mom sông Nuôi đủ năm con với một chồng” Vợ của Tú Xương là bà Phạm Thị Mẫn, quê ở Lương Đường, Hải Dương. Sinh ra trong một gia đình cũng được xem là khá giả, nhưng khi lấy Tú Xương, bà phải làm nghề hàng xáo, buôn gạo để nuôi chồng, nuôi con. Bà Tú ngày ngày nuôi chồng ăn học với ước mong có ngày chồng thi đỗ làm quan để rạng danh cho gia tộc. Bà không quản ngại khó khăn vất vả quanh năm suốt tháng, cần mẫn làm ăn. Vòng mưu sinh luẩn quẩn được gợi ra bằng từ “quanh năm”, ngày ngày đầu tắt mặt tối không có khoảng thời gian cho riêng mình để nghỉ ngơi. Công việc của bà Tú là buôn bán, liệu đây có thể xem là một nghề có thể mang lại cho bà Tú nguồn thu nhập lớn lao? Người xưa từng có câu “phi thương bất phú”, ý muốn chỉ ra nghề kinh doanh buôn bán là nghề có thể mang lại nhiều lợi nhuận. Thế nhưng trong câu thơ, hình ảnh “buôn bán ở mom sông” của người phụ nữ tảo tần lại gợi ra một nỗi chua xót, đắng cay trong công việc. Địa điểm làm việc không phải ở một nơi có nhiều hàng hóa, chợ búa sôi nổi, tấp nập, mà lại là nơi hoang vắng, thỉnh thoảng mới có một vài chiếc thuyền bè qua lại trao đổi hàng hóa. Từ “mom sông” gợi ra một sự chênh vênh, thậm chí là nguy hiểm. Vậy mà với công việc nhiều vất vả, hiểm nguy như vậy, bà Tú vẫn phải bám nghề để kiếm sống.  Mục đích được chỉ rõ trong câu thơ tiếp theo, đó là “nuôi đủ năm con với một chồng”. Nuôi con có thể được xem là một quy luật thông thường của cuộc sống, cha mẹ kiếm tiền để nuôi dạy con cái. Thế nhưng điều đáng ngại ở đây, là chỉ một mình bà nuôi những năm đứa con mà không có sự giúp đỡ của chồng. Và con hơn thế nữa, chính là một sự trớ trêu thay, cụm từ kèm theo việc nuôi những đứa con là thêm cả “với một chồng”. Đây thực sự là một gánh nặng vì bà phải lo thêm cả cơm áo cho chồng, lại còn thêm tiền giấy bút thi cử, thâm chí là cả những thú vui chơi của chồng trong việc giao hữu với bạn bè.   Cách nói “năm con với một chồng” là cách nói châm biếm tự trào vì tác giả tự thấy mình ngang bằng với những đứa con, thậm chí là nặng hơn cả những đứa con. Bà Tú giống như đang gánh trên vai một chiếc đòn gánh, với một bên là năm đứa con thơ, một bên là ông chồng, cuộc sống thật nhiều vất vả, gian truân. Câu thơ là lời tự giễu mình của Tú Xương, bản thân đã không giúp vợ chăm lo cho con, lại cũng không tự lo được cho mình, huống chi lo được cho vợ. Hai câu thơ là lời đề cao, khen ngợi bà Tú, một người vợ đảm đang, tần tảo suốt đời vì chồng vì con. Bà Tú giống như một người chủ gia đình, một điểm tự vững chắc cho chồng, dù công việc đầy vất vả hiểm nguy nhưng lúc nào ông chồng cũng được cung phụng, cơm bưng nước rót, cơm no rượu say, quần áo đẹp, tiền bạc rủng rỉnh. Ẩn sau trong đó là tấm lòng của một người vợ hết mực yêu thương chồng, tin tưởng vào chồng. Để có thể gánh vác trách nhiệm của một người vợ đảm đang như thế, bà Tú phải vất vả không những “Lặn lội thân cò khi quãng vắng” mà còn trong khung cảnh: “Eo sèo mặt nước buổi đò đông”. Câu thơ xuất hiện hình ảnh ẩn dụ quen thuộc về thân cò trong ca dao Việt Nam. Thân cò dường như đã trở thành biểu tượng của người phụ nữ Việt Nam tần tảo, suốt đời lam lũ “Thân cò lặn lội bờ sông/Gánh gạo nuôi chồng tiếng khóc nỉ non”. Hình ảnh “lặn lội thân cò” đã chỉ ra những vất vả trong cuộc sống mưu sinh của bà Tú. Từ ngữ “eo sèo mặt nước” gợi ra công việc buôn bán đầy phức tạp, buôn tranh bán cướp, mua rẻ bán đắt, lời qua tiếng lại tranh cãi nhau đầy bon chen. Hình ảnh đối lập “khi quãng vắng”- “buổi đò đông” gợi ra sự bấp bênh không ổn định trong cuộc sống mưu sinh. Hai câu thơ là niềm cảm phục đối với bà Tú, một người phụ nữ vì cuộc sống mưu sinh mà hi sinh bản thân mình. Hai câu thơ sử dụng những hình ảnh tả thực, cùng với nguồn thi liệu dân gian, từ láy “lặn lội”, “eo sèo” được đảo lên đầu câu đã cho thấy cuộc sống hiện tại của bà Tú khác xa với xuất thân gia đình. Mang tiếng là lấy ông Tú, xuất thân gia đình kẻ chợ, nhưng lại phải cơ cực nhọc nhằn. Ẩn sâu trong câu thơ là niềm xót thương vợ, thấu hiểu và trân trọng vợ của Tú Xương. Bà Tú sống một cuộc sống vất vả như vậy âu cũng là cái duyên cái nợ. Tú Xương đã phải thở dài thương cho thân phận của vợ, thôi thì “Một duyên hai nợ âu đành phận” mà bà Tú phải chấp nhận “Năm nắng mười mưa dám quản công”. Duyên vợ chồng, duyên lứa đôi, duyên cuộc đời đã đem bà đến bên ông Tú, âu cũng là một sự sắp đặt của số phận. Thế nhưng, một cái duyên ấy lại tròng vào người bà Tú hai cái nợ, cái nợ ấy gần như một lần nữa ám chỉ cuộc sống mưu sinh vất vả nuôi chồng nuôi con của người phụ nữ tảo tần. Nghệ thuật đối cân chỉnh “Một duyên hai nợ”- “Năm nắng mười mưa”, “âu đành phận”- “dám quản công”, giống như một tiếng thở dài cam chịu, chấp nhận, tự nguyện. Bà Tú dù phải trả qua nhiều lam lũ, vất vả nắng mưa thì cũng vẫn sẵn sàng đảm nhận tất cả để làm tròn trách nhiệm của một người vợ, một người mẹ. Câu thơ đã khắc tạc lên phẩm chất cao đẹp cả bà Tú, đức hi sinh thầm lặng mà cao cả, sự chịu thương chịu khó trong mọi hoàn cảnh. Tú Xương đã hóa thân vào tâm trạng, tình cảnh của vợ để xót thương cho vợ. Giọng thơ dồn dập hơn, bung tỏa những dồn nén, dường như là một sự dằn vặt tự thân ông Tú, thể hiện tình thương sâu nặng mà Tú Xương dành cho vợ. Nếu như ở những câu thơ trên, tình cảm của ông Tú chỉ ẩn sau những mô tả về hình ảnh của bà Tú, thì ở hai câu thơ cuối cùng, tình cảm của ông Tú đã bộc lộ một cách rõ ràng, chân thực. Sau những sự thương yêu, chiều chuộng, thấu hiểu, đề cao phẩm chất của vợ, Tú Xương lại tự oán trách mình, trách mình không thể cùng vợ gánh vác trách nhiệm. Câu thơ cuối bài giống như một lời chửi đổng: “Cha mẹ thói đời ăn ở bạc” Cuộc đời bạc bẽo hay chính là vì bà Tú “Có chồng hờ hững cũng như không”. Nhà thơ chửi thói đời tệ bạc, chửi xã hội phong kiến đương thời với nhiều bất công hà khắc, chế độ nam quyền độc đoán, để người phụ nữ phải chịu nhiều cực khổ. Cụm từ “Ăn ở bạc” một lần nữa trách than cho sự bất công đối với người phụ nữ. Cụ thể là hình ảnh bà Tú đây, xuất thân trong một gia đình danh giá nhưng khi lấy chồng về vẫn phải chịu những vất vả lam lũ, và có khó khăn vất vả, có cố gắng nhưng cuộc sống vẫn hoàn nghèo mà không khá lên được. Trách đời, trách xã hội, trách số phận, nhưng cái chính ông Tú vẫn là tự trách chính bản thân mình “Có chồng hờ hững cũng như không”. Tú Xương tự nhận lỗi về mình, bản thân là một ông chồng vô tâm, vô tích sự, không giúp ích gì được cho vợ, không gánh vác việc nhà đỡ vợ, để vợ một mình bươn trải, chịu bao cay đắng nhọc nhằn của cuộc sống. Dẫu nhọc nhằn khổ cực nhưng bà Tú lại không một lời kêu than, oán trách chồng, điều này càng khiến cho ông Tú cảm thấy áy náy, tự trách chính mình. Câu chửi đời, chửi mình cho thấy tình cảm mà Tú Xương dành cho vợ rất sâu nặng. Đó là tấm lòng quý trọng, tri ân cảm thông đối với vợ. Như vậy, xuyên suốt bài thơ là hình ảnh tảo tần, nhọc nhằn của bà Tú, những tưởng hình ảnh đó khiến ta suy nghĩ về sự vô tâm của ông Tú, nhưng thực chất, ẩn sâu trong đó lại là một người chồng không vô tâm, cũng không hề vô tình. Hai câu thơ cuối là tấm lòng của một người trí thức giàu nhân cách, hiểu biết về gia cảnh nghèo của chính mình, thương vợ thương con. Bài thơ được sáng tác trong giai đoạn nền nho học đang có dấu hiệu suy tàn. Những trí thức nho giáo đã không còn được coi trọng. Bài thơ “thương vợ” nhưng cũng chính là thương cho thân mình vậy, thương cho nỗi đau thất thế trước thời cuộc, lại không thể làm gì để giúp đỡ được công việc của vợ. Bài thơ được viết theo thể thất ngôn bát cú, với cách sử dụng ngôn ngữ bình dị, hình ảnh dung dị, đời thường, câu thơ không hề gọt giũa, dụng công nghệ thuật mà hình ảnh người vợ vẫn hiện lên sống động, giàu sức biểu đạt. Hình ảnh bà Tú hiện lên thật gần gũi, giống như hình ảnh của bao người chị, người mẹ, người vợ, người phụ nữ Việt Nam khác.  Tú Xương không chỉ nổi tiếng là một người tài hoa tài tử mà còn là người rất ngông, luôn đặt mình trên đời, trên người trên thiên hạ. Tiếng cười trong thơ Tú Xương mang nhiều sắc thái cung bậc, có thể là tiếng cười châm biếm sâu cay, đả kích quyết liệt, cũng có thể là tiếng cười tự trào ân hận, ngậm ngùi pha lẫn tâm tình như trong bài thơ trên. Tầm cỡ của Tú Xương chính là ở chỗ, tiếng cười đả phá trào lộng bao giờ cũng là tiếng lòng cất lên của một nền tảng trữ tình mang nội dung nhân đạo. Đằng sau tiếng cười đó là tình yêu thương, thấu hiểu, tình cảm chân thành nhất dành cho vợ của mình. >> Xem thêm ngay: Tìm hiểu hồn thơ Hàn Mặc Tử thông qua bài thơ Đây Thôn Vĩ Dạ Tổng hợp phân tích bài thơ Tây Tiến của nhà thơ Quang Dũng

Xem ngay
Cách học TOEIC cho người mất gốc từ 0 đến 600 điểm đầy đủ nhất

Cách học TOEIC cho người mất gốc từ 0 đến 600 điểm đầy đủ nhất

Học tập - ngày 14 tháng 02 năm 2020

Để ôn thi TOEIC hiệu quả, bạn cần có một lộ trình và phương pháp học phù hợp, đặc biệt là những người chưa có căn bản. Sau đây mình xin chia sẻ cách học TOEIC cho người mất gốc từ 0 đến 600 đầy đủ nhất 1. Đi tìm cảm hứng với tiếng Anh Có thể thấy, đa số những người yếu hoặc mất gốc tiếng Anh họ đều chán ghét và sợ môn tiếng Anh. Điều đó làm cho họ bị quấn vào một vòng luẩn quẩn: sợ tiếng Anh, không học tiếng Anh dẫn đến không giỏi tiếng Anh, không giỏi tiếng Anh lại khiến họ sợ tiếng Anh. Trước khi có thể ôn TOEIC hiệu quả thì chắc chắn bạn phải tìm được cảm hứng đối với tiếng Anh. Bạn có thể làm quen với tiếng Anh bằng cách tập nghe nhạc, xem phim tiếng Anh hoặc tìm hiểu văn hóa của các nước nói tiếng Anh để kích thích sự tò mò của bạn. 2. Xây dựng căn bản Thời gian cho giai đoạn này là khoảng 1 đến 2 tháng. Đối với giai đoạn này, không nên đi vào luyện đề đọc TOEIC luôn mà hãy làm quen, học phát âm những âm cơ bản, cụ thể là bảng 44 âm IPA. Khi phát âm chuẩn, bạn có thể dễ dàng nghe được chính xác các câu từ, từ đó có thể nâng cao kỹ năng nghe. Tuy nhiên, để nâng cao kỹ năng nghe thì phát âm chuẩn là chưa đủ, các bạn cần phải có một vốn từ vựng nhất định vì khi biết từ vựng thì bạn mới có thể nghe được những từ đó. Về tài liệu luyện nghe thì các bạn có thể sử dụng các bộ sách TOEIC cơ bản như: Very Easy Toeic, Big Step Toeic 1,2, … hoặc có thể sử dụng luôn phần nghe trong bộ đề ETS 2016, 2018, 2019. 3. Giai đoạn 300 – 450 Trong giai đoạn này, các bạn cần khoảng 150 giờ học để có thể đạt được mục tiêu. Để có thể đạt được ngưỡng 300 – 450 các bạn cần bắt đầu bổ sung kiến thức về ngữ pháp, cần tập trung vào những phần ngữ pháp trọng tâm trong thang điểm này như: từ loại (động từ, danh từ, tính từ, trạng từ, đại từ, trợ động từ, liên từ, giới từ), mệnh đề quan hệ và rút gọn mệnh đề quan hệ, so sánh tính từ và so sánh trạng từ. Về tài liệu học ngữ pháp, các bạn có thể tham khảo cuốn “Ngữ pháp tiếng Anh” do cô Mai Lan Hương biên soạn hoặc có thể sử dụng internet để tra kiến thức về các phần ngữ pháp này. Ngoài việc học ngữ pháp, các bạn vẫn phải duy trì việc luyện nghe kết hợp với làm đề, các bạn có thể sử dụng bộ đề ETS 2019 New Format để học. Trong quá trình làm đề, gặp bất kỳ từ mới nào trong phần nghe thì các bạn nên tra từ điển và ghi nó lại để học. Việc bổ sung từ mới sẽ giúp các bạn nâng cao khả năng nghe và có thể nghe được nhiều thông tin hơn trong đề. Về phần thi đọc, ở trình độ này, các bạn nên tập trung nhiều thời gian để ôn part 5 và part 6, part 7 có thể ôn ít hơn vì part 7 rất khó và dài, cần phải có đủ một vốn từ vựng nhất định thì mới có thể làm tốt được. 4. Giai đoạn 450 – 600 Khi đã đạt được mức 450, các bạn đã có cái nhìn nhất định về những kiến thức có trong đề thi TOEIC và có thể dễ dàng hơn cho việc ôn luyện. Thời gian bạn cần cho giai đoạn này là khoảng 170 giờ, nếu muốn nhanh mỗi ngày các bạn cần dành ra khoảng 2 đến 3 giờ cho việc học tiếng Anh. Trong giai đoạn này, các bạn vẫn phải tiếp tục học nghe, nghe và luyện nghe thật nhiều, quá trình nghe là quá trình xuyên suốt trong thời gian ôn luyện. Nếu duy trì tốt được tính liên tục của việc luyện nghe thì trình độ nghe của các bạn sẽ lên rất nhanh, điểm bài thi nhờ đó cũng được tăng theo. Ôn tập, nắm chắc ngữ pháp căn bản đã học và ôn thêm những kiến thức ngữ pháp về thì, câu chủ động, bị động, hòa hợp giữa chủ ngữ và động từ. Giải hết bộ đề ETS 2019 một cách kỹ càng, ngoài ra bạn có thể làm và luyện thêm bộ ETS 2018. Chú ý trong quá trình giải đề bạn cần ghi chép những từ vựng hay gặp, những cấu trúc hay gặp, đặc biệt là trong phần nghe vì phần nghe thường là phần dễ kiếm điểm hơn và số điểm đạt được cũng thường cao hơn. Trước khi bước vào kỳ thi thật, các bạn nên dành ra ít nhất một tháng để luyện đề và bấm thời gian như khi thi thật. Việc luyện đề kiểu này sẽ giúp bạn làm quen với áp lực khi đi thi, tăng tốc độ làm bài và sự chính xác. Mức điểm TOEIC 600 là một mức điểm khá khó đối với những người mất gốc tiếng Anh, tuy nhiên điều này là hoàn toàn có thể nếu bạn có sự quyết tâm nhất định. Hy vọng bài chia sẻ này sẽ giúp ích cho quá trình ôn luyện của bạn. Giasusinhvien.net chúc các bạn đạt mục tiêu! >>> Tham khảo thêm: Ưu điểm của phương pháp học tiếng Anh qua trò chơi Học tiếng Anh online với giáo viên nước ngoài trên các ứng dụng

Xem ngay
Tìm hiểu hồn thơ Hàn Mặc Tử thông qua bài thơ Đây Thôn Vĩ Dạ

Tìm hiểu hồn thơ Hàn Mặc Tử thông qua bài thơ Đây Thôn Vĩ Dạ

Học tập - ngày 12 tháng 02 năm 2020

Hàn Mặc Tử - người thi sĩ mang phong cách điên cuồng, mãnh liệt bộc lộ qua những vần thơ thác loạn, ngập tràn ý tượng hồn, trăng và cả máu, mang đến hơi thở mới lạ đặc trưng trong phong trào Thơ Mới. Song, thơ Hàn Mặc Tử đâu chỉ có những ý niệm điên cuồng. Thi sĩ cũng có lúc trầm ngâm, mơ màng trong nét tinh khôi, tươi sáng của miền chân quê xứ Huế để rồi viết nên những vần thơ chứa chan xúc cảm về thiên nhiên, con người. Thi phẩm ấy mang tên “Đây thôn Vĩ Dạ”, một nét trong trẻo hiếm hoi trong tập Thơ Điên. Đây thôn Vĩ Dạ, tiêu đề bài thơ cũng đã đủ để khơi gợi ý thơ, nhắc nhớ về mảnh đất chân tình nơi làng quê xứ Huế. Ở mảnh đất Vĩ dạ ấy, nhà thơ gắn bó thiết tha và khắc khoải mãi nỗi nhớ về thiên nhiên, con người. Thi phẩm gồm ba khổ thơ bảy chữ, ý thơ vận động theo từng khoản thời gian trong ngày, đi từ hiện thực đến mộng huyễn, từ cảm nhận đời thường cho đến rung cảm mãnh liệt nơi tâm hồn. Mở đầu bài thơ là câu hỏi tu từ với giọng trách móc nhẹ nhàng, âm điệu dịu dàng nhỏ nhẹ như lời của một cô gái Huế: “Sao anh không về chơi thôn Vĩ?” Lời thơ vừa có ý trách móc lại vừa mang ý thủ thỉ mời gọi chân tình. Câu thơ nhắc nhớ người đi xa sao lâu lắm không trở lại với chốn làng quê ngoại ô, nơi Vĩ Dạ thôn thơ mộng. Đây là lời của người con gái Huế hay phải chăng là lời nhân vật trữ tình tự trách lòng mình sao vô tâm với nơi này. Ta thấy được ý thơ bộc lộ tâm tình của người đã từng có rất nhiều những kỉ niệm gắn bó với nơi đây. Thi sĩ dùng từ “không về” thay cho “chưa về”, và “về chơi” chứ không phải là “về thăm”. Cái tình trong ý thơ đậm đà bao nhiêu thì từ ngữ nếu chiêm nghiệm lại càng khiến ta cảm giác man mác đượm buồn bấy nhiêu. Người ấy đã lâu lắm rồi không trở về nơi chốn cũ, trở về tâm tình cũ và những xúc cảm cũng không còn có thể đậm đà như xưa.  Bức tranh làng quê yên ả thanh bình hiện lên cùng nét đẹp thiên nhiên gần gũi, thanh khiết và trong trẻo: “Nhìn nắng hàng cau nắng mới lên Vườn ai mướt quá xanh như ngọc Lá trúc che ngang mặt chữ điền.” Ba câu thơ tiếp theo của khổ thơ đầu tiên mở ra quang cảnh thôn Vĩ Dạ với những cảnh vật đặc trưng đầy tươi đẹp của xứ Huế. Nơi đây, sắc nắng lan tỏa khắp không gian, vươn mình rót tràn trên những tán cây cao vút. Sắc nắng ấy là sắc nắng tinh khôi, thứ ánh nắng mới của bình minh buổi sớm. Sau một đêm đắm chìm trong làn sương, sớm tinh mơ, khu vườn đón nhận ánh bình minh phản chiếu một màu xanh trong đẹp như lục ngọc. Đó là một màu xanh mướt, xanh trong đầy ảo diệu nhưng cũng thật bình dị biết bao. Cảnh vật mà nhà thơ miêu tả không lung linh huyền ảo mà thật tinh tế, tươi trong; không lóng lánh mà chỉ cần một vài nét mơ màng tinh khôi cũng đủ để khiến người cảm nhận phải thốt lên ngỡ ngàng. Cảnh vật xứ Huế quả thật trở nên nhẹ nhàng và yên bình đến lạ thường qua đôi mắt tinh tế của thi sĩ Hàn Mặc Tử. Kết lại khổ thơ đầu tiên là một hình ảnh đặc sắc: “Lá trúc che ngang mặt chữ điền”. Nếu như ở hai câu đầu tiên, thi sĩ dồn sự chú ý vào cảnh vật thì câu thơ này đã mang bóng dáng sự xuất hiện của con người. Hình ảnh mảnh lá trúc thanh thoát rủ xuống che ngang gương mặt phúc hậu chữ điền, một nét đẹp mà khiến người đọc phải thốt lên “rất Huế”! Phải chăng đằng sau những ô cửa rủ vài nhành lá trúc xanh xanh, có người con gái e dè, thục nữ nép mình nhoẻn môi cười ý nhị. Và phải chăng, đó là hình ảnh thi nhân đôi lần ngang qua chốn này, dừng chân ghé lại nhưng còn vướng bận tâm tình chưa thể nói, còn ngập ngừng sau khung cửa. Nét tao nhã của con người xứ Huế không biết vô tình hay có dụng ý mà nhà thơ đã đưa vào vần thơ một cách tinh tế như vậy. Đôi lúc, những hình ảnh ngẫu nhiên bình dị lại mang đến xúc cảm ấn tượng khó phai mờ, quá đỗi thân thương. Nhắc đến Hàn Mặc Tử là nhắc đến một hồn thơ ngập tràn ánh trăng. Và làm sao có thể thiếu đi ánh trăng trong những vần thơ viết về xứ Huế. Nơi dòng Hương giang lẳng lặng gieo tâm tình vào lòng Huế mộng mơ cũng là nơi ánh trăng được dịp kết nối với hồn người, khơi gợi nên những xúc cảm sâu lắng và mãnh liệt nhất: “Gió theo lối gió mây đường mây Dòng nước buồn thiu hoa bắp lay Thuyền ai đậu bến sông trăng đó Có chở trăng về kịp tối nay?” Tạm khép lại những niềm vui mới chớm của khung cảnh ngày mới ở khổ thơ đầu tiên, Hàn Mặc Tử lại đưa người đọc đến mạch cảm xúc riêng độc đáo nhất. Thật vậy, không có thi phẩm nào nhà thơ sáng tác mà không ẩn chứa tâm tư phức tạp, khó có thể nhìn thấu được. Bức tranh đêm trên sông trở nên hiu quạnh, mang một nỗi buồn thương da diết mà ở đó, gió, mây, trăng – những yếu tố tưởng chừng hoà quyện, thống nhất lại bị tách biệt hoàn toàn:“Gió theo lối gió mây đường mây”. Trên dòng nước sông Hương trong khoảnh khắc đêm thanh vắng, gió – mây chia hai ngả, gió thổi mây trôi nhưng chẳng thể cùng một hướng. Sự nghịch lý này lại chính là biểu hiện của sự chia lìa, xa cách, mãi không thể đồng điệu trên một cung đường. Nỗi sầu được cộng hưởng với dòng chảy nhè nhẹ của làn nước sông và bóng phất phơ của cụm hoa bắp lay lay trong gió. Tất cả hòa quyện khiến nỗi sầu thương lại càng trở nên thê lương, đã buồn lại còn”buồn thiu”, đã sầu lại càng trở nên cô độc trong không gian quạnh hiu này. Bức tranh trầm tịch của cảnh vật được tác giả phác hoạ nên không chỉ đơn giản là kể câu chuyện đêm trăng trên dòng sông Hương tĩnh mịch mà đó chính là bức hoạ tâm, bộc lộ nỗi tâm tình tê tái của một đoạn tình duyên vỡ lở.  Nỗi buồn ngập tràn trong tâm hồn nhưng cũng không thể chiếm trọn không gian của nỗi nhớ mong da diết để rồi cất lên trong hai câu thơ sau là câu hỏi bâng khuâng:  “Thuyền ai đậu bến sông trăng đó Có chở trăng về kịp tối nay?” Thi sĩ không tìm đến cảnh vật nơi đây chỉ đến thưởng trăng, ngắm nhìn dòng chảy Hương giang mà để chìm đắm trong luồng cảm xúc bất tận của hồn mình. Hình tượng con thuyền neo đậu bên kia bến bờ trên dòng sông ngập tràn ánh trăng trở nên thi vị biết bao. Sông trong thơ Hàn là “sông trăng”, thuyền trong thơ Hàn là thuyền chở đầy ánh trăng. Trăng tràn ngập khắp mọi nơi. Ánh trăng tượng trưng cho niềm hạnh phúc viên mãn lại bỗng trở thành một điều xa xỉ trong ý niệm của nhà thơ.  Nhân vật trữ tình hay cũng chính là thi nhân với khát khao mối duyên đã đứt đoạn, không thành, tận hưởng ánh trăng mà chỉ mong chờ những khát khao bình dị nhất. Câu hỏi tu từ cất lên cuối khổ thơ: “Có chở trăng về kịp tối nay?”bộc lộ nỗi niềm khát khao chạy đua với những ràng buộc để níu giữ hạnh phúc mong manh quý giá nhất. Ánh trăng kia rót đầy mạn thuyền, nhưng liệu thuyền ai có kịp mang ánh trăng – niềm hạnh phúc bình dị ấy đến được nơi bến bờ? Liệu đoạn tình cảm kia có thể có hy vọng thành hình hay chăng? Nỗi niềm nhà thơ đến khổ thơ cuối đã được bộc lộ trọn vẹn, sống giữa cõi đời thực và cõi huyền ảo, thi nhân lại khiến người đọc không thể phân biệt được đâu là thế giới thật sự trong thơ của mình: “Mơ khách đường xa khách đường xa Áo em trắng quá nhìn không ra Ở đây sương khói mờ nhân ảnh Ai biết tình ai có đậm đà” Không gian hư ảo mở ra bằng cõi “mơ”, chơi vơi với hình tượng “khách đường xa” mà tác giả vẽ nên cùng với điệp từ tạo cảm giác như hình bóng ai đó dần xa rời, quay bước đi không hề ngoảnh đầu lại. giữa không gian hư ảo đó, dù cho có muốn níu giữ cũng chẳng thể nhìn xuyên lớp màn khói mây. Nét huyền ảo trong gian tác giả vẽ nên hệt khung cảnh giấc mơ kỳ bí, nơi con người đã không còn có thể ý thức rõ ràng về điều gì. Ở nơi đó, sắc trắng tinh khôi của tà áo người con gái thi nhân mang nặng tâm tình đang thoắt ẩn thoắt hiện, mờ mờ hư ảo, trịnh nguyên vạn phần. Hình tượng ấy trở thành một nỗi khát khao mà có lẽ trong tâm tưởng của nhà thơ vốn suy nghĩ sẽ chẳng bao giờ có thể chạm tay đến. Mối chân tình đơn phương được nhà thơ biểu hiện rõ trong khổ thơ cuối cùng này, càng khắc khoải, nhớ thương lại càng trở nên hụt hẫng và tuyệt vọng và mãi giằng lòng trong mối nghi vấn “Ai biết tình ai có đậm đà.” “Ai” vừa là người hỏi vừa là người được hỏi. Đối tượng câu hỏi không hề cụ thể, cũng giống như mối tình đơn phương mãi trao đi chẳng biết bao giờ mới có thể nhận được sự hồi đáp. Tâm hồn thi nhân đã trót bơ vơ, lạc lõng như rơi vào hoang mạc ái tình đầy tuyệt vọng. Hoá ra bấy lâu, trong hồn thơ thi nhân vẫn luôn ẩn chứa những ý niệm chân tình như vậy, vẫn nuôi giữ đoạn tình cảm đẹp đẽ dù cho có muôn vàn cách trở. Niềm khát khao trở lại với Vĩ dạ thôn và trở lại với một mảnh tình người lắng đọng mà tác giả đã chôn vùi, giấu kín sâu tận đáy lòng này được dịp bộc lộ qua ý thơ hết sức tinh tế và biểu cảm. Giai đoạn bạo bệnh dày vò thân xác vẫn không thể ngăn nhà thơ sáng tạo những vần thơ dạt dào xúc cảm như dốc hết chân tình cho người ở lại. Khép lại ba khổ thơ tuy ngắn ngủi của thi phẩm Đây thôn Vĩ Dạ, người đọc còn nghe thủ thỉ lời tâm sự chân thành của hồn thơ mang tên Hàn Mặc Tử. Nếu như nói Hàn Mặc Tử xứng đáng là một điệu độc hành mang âm hưởng bi ai điên cuồng trong thi đàn Thơ Mới thì Đây thôn Vĩ Dạ là nốt cao trong trẻo vút lên giữa những thi phẩm đặc sắc khác, khơi dậy tình yêu thương mảnh đất thôn quê và con người xứ Huế, lại đồng cảm tiếc thương cho tâm tình nhà thơ. >> Tham khảo thêm ngay: Phân tích bài thơ Từ ấy của nhà thơ Tố Hữu Ngữ văn lớp 11 Phân tích nhân vật Vũ Nương trong truyện người con gái Nam Xương

Xem ngay